Cô ấy liếc nhìn phong bì thư tôi vẫn chưa kịp cất trên bàn, nhưng không nói gì cả.
“Mai là bắt đầu kỳ nghỉ Tết rồi, có muốn đi xem phim không?”
“Xem phim gì?”
“Tùy cậu chọn, dù sao cũng là tớ mời.”
Khi lá thư thứ chín gửi đến, mùa xuân đã trôi qua được một nửa, những hàng cây bạch dương bên sân tập bắt đầu nhú chồi non.
Trong thư cô ấy viết, trong núi cuối cùng cũng không còn mưa nữa, ngói trên mái lớp học cô ấy đã tìm người đến sửa, sẽ không bị dột nữa.
Cậu bé muốn làm phi công đứng nhất toàn lớp trong kỳ thi cuối kỳ, cậu bé hỏi cô ấy khi nào mới được chạm vào máy bay thật.
Cô ấy bảo cậu bé cứ tập trung học hành, giữ vững thành tích, sau này sẽ có cơ hội.
Đêm đó tôi mơ thấy chuyện kiếp trước, lại mơ thấy cô ấy.
Trong mơ, cô ấy vẫn là cô thiếu nữ mặc váy hoa năm nào, đứng dưới lầu nhà tôi gọi tôi đi học, tiếng gọi xuyên qua khung cửa sổ tầng hai.
Khi tỉnh dậy trời vẫn chưa sáng, tôi nằm thêm mười mấy phút rồi mới đi vệ sinh cá nhân.
Khi hất nước lạnh lên mặt, đầu óc cuối cùng cũng tỉnh táo lại.
Lá thư thứ mười một gửi đến khi tôi đã bắt đầu tham gia đợt huấn luyện tập trung cấp cao hơn, nửa tháng mới được về ký túc xá một lần.
Thư do Triệu Tình nhận giúp tôi, khi cô ấy đưa thư, lông mày hơi nhíu lại.
“Người dạy tình nguyện kia vẫn luôn viết thư cho cậu à?”
“Ừ.”
“Cậu có hồi âm không?”
Tôi lật mặt sau phong bì, nhét vào trong ba lô.
Triệu Tình đợi vài giây, không thấy tôi trả lời nên cũng không hỏi thêm.
“Chiều nay trường b/ắn trống, có muốn đi tập thêm không?”
Trong lá thư thứ mười ba, cô ấy kể đứa trẻ muốn làm phi công đã thi đỗ vào trường cấp hai trọng điểm của huyện.
Cô ấy đã gửi số tiền trợ cấp dành dụm suốt nửa năm cho gia đình đó, nói rằng đây là tiền học phí và lộ phí.
Cô ấy nói cô ấy làm vậy không phải để chuộc tội, chỉ là muốn bản thân cảm thấy dễ chịu hơn một chút.
Nhưng có lẽ cũng chính là đang chuộc tội, cô ấy thừa nhận điều đó.
Lá thư thứ mười lăm, cô ấy nói mình đã ở trong thôn gần ba năm rồi, trường ở thị trấn muốn điều cô ấy về huyện dạy học.
Cô ấy từ chối, bảo rằng vẫn muốn ở lại thôn.
Những đứa trẻ ở đó cần người dạy hơn, mà cô ấy cần ở lại một nơi khiến cô ấy biết mình phải làm gì mỗi khi thức dậy.
Lá thư thứ mười tám, mép giấy thư hơi ẩm, cô ấy nói trong núi mưa suốt nửa tháng trời.
Lớp sơn tường của lớp học bị bong tróc quá nửa, cô ấy đã cùng lũ trẻ sơn lại tường.
Cô ấy nói lúc sơn tường lại nhớ tới hồi nhỏ cùng tôi sơn hàng rào trong sân nhà tôi.
Lần đó cô ấy làm sơn dính đầy người tôi, mẹ tôi đuổi theo cô ấy chạy quanh sân ba vòng.
Những hình ảnh đó bây giờ nhớ lại vẫn như chuyện mới ngày hôm qua.
Lá thư thứ hai mươi gửi đến khi tôi đã lên năm cuối.
Triệu Tình và tôi ngày nào cũng cùng nhau tập luyện, cùng học, cùng diễn tập chiến thuật trên sa bàn.
Tất cả mọi người đều biết chúng tôi đã thành đôi, nhưng không ai lấy làm lạ.
Một hôm Triệu Tình ở trong ký túc xá của tôi, mở ngăn kéo tìm cuốn sổ tay huấn luyện.
Xấp thư kia đã chiếm mất một nửa không gian ngăn kéo, được xếp ngay ngắn, sắp xếp theo trình tự thời gian từ xa đến gần.
Cô ấy nhìn chằm chằm vào xấp thư đó hai giây, rồi rút cuốn sổ ra, đóng ngăn kéo lại.
“Cậu thực sự không bao giờ hồi âm sao?”
“Những lá thư này tớ đều đọc hết rồi. Nhưng hồi âm và đọc thư là hai chuyện khác nhau. Tớ vẫn chưa nghĩ kỹ.”
Lá thư thứ hai mươi lăm gửi đến khi ngoài trời tuyết rơi dày đặc.
Trên phong bì ngoài bụi đất còn có vết nước, có lẽ là do người đưa thư đã đi quá lâu trong tuyết.
Cô ấy viết một câu chuyện rất dài về mùa đông.
Kể rằng trong thôn có một cụ già, năm nào mùa đông cũng mang khoai lang cho cô ấy, năm nay cụ đã ra đi, trước khi đi đã gửi cháu trai mang giỏ khoai cuối cùng đến cho cô Cố.
Cô ấy nói mình đã đứng trong sân nhà trống trải của cụ già khóc rất lâu, không phải vì giỏ khoai đó.
Mà là vì người tốt trên thế giới này ít như vậy, cô ấy lại chính tay h/ủy ho/ại người tốt nhất trong số đó.
Tôi cầm lá thư đứng bên lò sưởi rất lâu, cho đến khi tiếng gọi đi ăn cơm của Triệu Tình vọng đến từ ngoài cửa.
Lá thư thứ ba mươi gửi đến khi tôi chuẩn bị tốt nghiệp, được chọn làm đại diện sinh viên xuất sắc.
Đêm đó tôi mở lá thư thứ ba mươi ra, nét chữ của cô ấy đã không còn căng thẳng như những lá đầu nữa.
Nét chữ thoáng đãng hơn, nhưng cũng vững chãi hơn.
Trong thư kẹp một tấm ảnh chụp chung với lũ trẻ, nền là bức tường trắng vừa sơn, trên đó dán những bức tranh cô ấy cùng học sinh vẽ.
Cô ấy đứng ở hàng sau cùng bên cạnh, da ch/áy nắng đen sạm, g/ầy hơn trước, mặc chiếc áo phông cũ đã giặt đến bạc màu.
Biểu cảm trên mặt không phải là cười, mà là một sự nghiêm túc rất bình lặng.
Phía sau tấm ảnh vẫn là dòng chữ nhỏ: A Nghiễn, chúc mừng cậu tốt nghiệp. Tớ ở đây rất tốt, đừng lo lắng.
Tôi lật lại mặt trước tấm ảnh, nhìn gương mặt cô ấy, nhìn trọn vẹn một phút đồng hồ.
Sau đó tôi đặt tấm ảnh vào phong bì, để cùng với hai mươi chín lá thư trước đó.