Họ trục vớt từ đáy giếng lên được vài bộ h/ài c/ốt.
Pháp y làm việc bên miệng giếng suốt cả buổi sáng.
Anh ta bước tới, nói với tôi: “DNA của một trong những bộ h/ài c/ốt nữ trưởng thành trùng khớp với người chị họ xa của cô, những bộ còn lại thì không còn cách nào để x/ác minh nữa.”
Tôi đứng bên miệng giếng, nhìn họ bỏ xươ/ng cốt vào túi niêm phong, dán nhãn, chụp ảnh ghi chép lại.
Đèn flash lóe lên, rồi lại lóe lên lần nữa.
Tôi quay người, nhìn về phía bãi đất trống bên cạnh giếng.
Cái giếng này đã nuốt chửng bao nhiêu người? Dưới đáy giếng còn bao nhiêu bí mật nữa?
Tôi không biết.
Tôi nắm ch/ặt chiếc vòng ngọc, tự nhủ trong lòng: Đợi vụ án kết thúc hoàn toàn, nhất định mình sẽ quay lại, trồng một cây hoa mộc tê bên miệng giếng để chị được an nghỉ.
Sau đó tôi quay người, sải bước đi ra khỏi làng.
Ngày tuyên án, Trần Đức Hậu và Phó huyện trưởng Lưu đều phải nhận án nặng.
Tôi ngồi ở hàng ghế thứ ba khu vực dành cho người dự thính.
Cảnh sát tư pháp dẫn Trần Đức Hậu vào, ông ta mặc chiếc áo khoác vàng của trại tạm giam.
Tóc đã c/ắt ngắn, bạc đi không ít.
Ông ta cúi đầu suốt dọc đường, bước lên vành móng ngựa, ngồi xuống, không nhìn về phía người dự thính.
Thẩm phán bắt đầu đọc bản án.
Đọc gần mười phút.
Tôi nghe từng chữ, từng chữ một.
Đến phần tuyên án, người nhà của Trần Đức Hậu ở hàng ghế dự thính bật khóc.
Một người phụ nữ trẻ lấy tay che miệng, vai run lên.
Một người phụ nữ trung niên bên cạnh cũng đang khóc, lấy tay áo lau mắt.
Tôi không khóc.
Khuôn mặt vô cảm.
Trong lòng trống rỗng một mảng, không hề thấy hả hê như từng tưởng tượng, chỉ thấy một nỗi trống trải nặng nề.
(Tuyên án rồi. Nhưng chị không thể quay về được nữa.)
Thẩm phán gõ búa.
Cảnh sát tư pháp dẫn Trần Đức Hậu xuống.
Khi đi ngang qua hàng ghế dự thính, ông ta ngoái cổ nhìn thấy tôi.
Ông ta khựng lại khoảng vài phần nghìn giây, rồi rời ánh mắt đi, bị cảnh sát tư pháp thúc giục bước tiếp.
Ra khỏi cổng tòa án.
Ánh nắng rất chói, làm mắt đ/au nhức.
Tôi đứng trên bậc thềm, nheo mắt, lấy tay che trán.
Vừa đứng vững, một người phụ nữ trung niên lao đến trước mặt tôi.
Bà ta mắt đỏ hoe, chỉ vào mặt tôi ch/ửi: “Giờ cô hài lòng rồi chứ? Cô hại cả gia đình tôi rồi!”
Tôi đứng yên tại chỗ, nhìn bà ta.
Ông Trương từ phía sau bước nhanh tới, chắn trước mặt tôi, nói với người phụ nữ đó: “Bản án đã tuyên rồi, đừng có làm lo/ạn ở đây.”
Người phụ nữ kia vẫn khóc, có người bên cạnh chạy đến giữ bà ta lại, lôi đi.
Vừa đi bà ta vừa ngoái đầu lại ch/ửi bới.
Tôi không nói gì.
Ông Trương xoay người, vỗ vai tôi: “Đi thôi, đừng để ý đến bà ta.”
Ông ấy lấy từ trong túi ra một tờ bản án đã gấp gọn, đưa cho tôi: “Của chị cháu đấy.”
Tôi nhận lấy, từ từ mở ra, rồi lại cẩn thận gấp lại, bỏ vào túi áo trong.
“Ông Trương, sức khỏe ông thế nào rồi ạ?”
“Vẫn còn khỏe chán, đừng lo.”
Ông ấy mỉm cười, “Cháu cứ đi làm việc của mình đi.”
Tôi gật đầu, xoay người bước đi.
Sau đó tôi đi m/ua cây giống hoa mộc tê.
Chọn một cây cao nửa người, thân thẳng, lá xanh.
Ông chủ nói đây là giống kim quế, hoa nở lâu, mùi thơm nồng.
Ông ấy còn dặn tôi sau khi trồng phải tưới đẫm nước,
mùa đông năm đầu tiên phải chú ý chống rét.
Tôi ghi nhớ từng lời.
Trả tiền xong, tôi xách bầu đất của cây bắt xe khách về làng.
Trên xe ít người, tôi để cây giống bên chân, ngồi cạnh cửa sổ.
Ngoài cửa sổ, cánh đồng bằng phẳng, thỉnh thoảng có những ngôi nhà lướt qua.
Tôi tựa lưng vào ghế, mân mê góc tờ bản án trong túi.
Đến đầu làng tôi xuống xe.
Tôi xách cây giống đi vào trong.
Đường trong làng đã được sửa lại, dễ đi hơn trước.
Sắp đến gần cái giếng, tôi thấy miệng giếng mọc đầy cỏ dại, cao đến cả thước.
Tôi đặt cây giống bên miệng giếng, lấy cái xẻng từ trong túi ra.
Chọn một vị trí bên cạnh giếng, tôi bắt đầu đào hố.
Đất rất khô, lẫn cả mảnh ngói vụn và sỏi đ/á.
Cắm xẻng xuống, đạp một chân, bẩy lên.
Cuốc đất đầu tiên bỏ sang bên cạnh.
Cuốc thứ hai.
Hố dần sâu hơn.
Cái xẻng chạm vào một mảnh ngói, phát ra tiếng kêu giòn tan.
Tôi cúi người nhặt lên, ném sang một bên.
Tiếp tục đào.
Tay bị cán xẻng làm đ/au rát.
Phía xa trên bờ ruộng có hai người đang đứng nhìn từ xa.
Không ai đến gần.
Tôi cúi đầu tiếp tục đào.
Đào hố sâu nửa mét, rộng hơn bầu đất của cây một vòng.
Tôi đặt cây giống vào,
định vị cho thẳng.
Sau đó bắt đầu lấp đất.
Lấp từng lớp một, dùng tay nén ch/ặt.
Lấp được một nửa, tôi dừng lại, vỗ phẳng.
Sau đó tiếp tục lấp đầy, dùng chân dẫm một vòng xung quanh.
Lão Bí thư xách một xô nước đi tới.
Ông ấy đã già, lưng c/òng hơn trước.
Ông ấy đặt xô nước xuống đất, dùng gáo múc nước, từng gáo một tưới quanh gốc cây.
Nước thấm vào đất, sủi bọt.
“Từ nay mỗi năm đến tiết Thanh Minh, ta sẽ đến đây đ/ốt giấy.”
Ông ấy nói, giọng khàn khàn.
Tôi gật đầu.
“Cảm ơn ông.”
Tôi nói.
Ông ấy xua tay, “Đáng mà.”
“Cây này trồng xuống, cũng coi như cho con bé một nơi để gửi gắm.”
Ông ấy nói thêm.
Tôi lấy chiếc vòng ngọc từ trong túi ra.
Vết khắc bên trong vòng vẫn còn đó, hai chữ LF.
Tôi dùng ngón cái vuốt ve, ngồi xổm xuống, đào một cái hố nhỏ bên gốc cây, đặt chiếc vòng vào rồi lấp đất lên.
“Chị ơi, chiếc vòng này sẽ ở bên chị. Từ nay về sau đây là nơi thuộc về chị.”
Tôi đứng dậy.
Lá cây hoa mộc tê đung đưa trong gió.
Tôi phủi đất trên tay.
Điện thoại reo.
Tôi bắt máy,
là b/ệnh viện gọi tới.
“Có phải Lâm Tú không? Kết quả kiểm tra lại của ông Trương đã có, mọi thứ đều bình thường.”
“Vâng. Cảm ơn.”
Tôi cúp điện thoại.
Tôi quay đầu nói với lão Bí thư: “Cháu đi đây, sẽ không quay lại nữa.”