Mẹ tôi "á" một tiếng rồi lao tới: "Con ơi! Sao con lại về rồi!"
Anh cả ngẩng đầu, thều thào nói: "Họ... họ đưa con về..."
Người lính địch cầm đầu cất tiếng. Hắn nói tiếng Hán bập bẹ, nhưng vẫn có thể hiểu được: "Cái này... của các người... chúng tôi... trả lại cho các người."
Cha tôi ngẩn người: "Trả, trả lại cho chúng tôi?"
"Đúng," tên lính chỉ vào anh cả, vẻ mặt như sắp sụp đổ, "Cậu ta... ăn khỏe quá, chúng tôi... nuôi không nổi."
Toàn trường im phăng phắc, không một tiếng động.
Tên lính tiếp tục xả nỗi khổ:
"Ban đầu định... vứt giữa đường, nhưng cậu ta... cứ khóc mãi, khóc đến mức chúng tôi... không ngủ nổi, không còn cách nào... đành đưa về."
Anh cả ngồi xổm dưới đất, dù đang yếu vẫn cố nói đỡ cho họ:
"Thật ra họ cũng tốt... trên đường còn chia cho con nửa cái bánh bao..."
Cha tôi không biết nói gì cho phải.
Mẹ tôi đã chẳng còn tâm trí đâu mà thấy x/ấu hổ, ôm ch/ặt anh cả vào lòng, khóc không ra hơi.
Bốn tên lính đưa anh cả về xong, quay người định đi.
Cha tôi gọi họ lại: "Hay là... ăn cơm xong rồi hãy đi?"
Bốn cặp mắt "vụt" một cái sáng rực lên:
"Có... có đồ ăn ạ?"
Đêm hôm đó, nhà tôi bày tiệc, người được chiêu đãi lại chính là quân địch.
Mẹ tôi mang hết của cải trong nhà ra, anh hai chạy đi mượn gà trong thôn, cha tôi khui vò rư/ợu cũ.
Bốn tên lính ăn đến mức miệng đầy dầu mỡ, ăn rồi lại khóc:
"Chúng tôi... mấy tháng nay chưa được ăn no rồi..."
Anh cả cũng khóc theo:
"Con... con cũng vậy..."
Cha tôi cầm chén rư/ợu, nhìn cả nhà, không biết nên khóc hay cười.
Ăn no uống say, bốn tên lính lau miệng, đứng dậy cảm ơn. Tên cầm đầu lấy từ trong ngựk ra một tờ giấy, đưa cho cha tôi: "Cái này... cho các người. Là tướng quân của chúng tôi... ký đấy."
Cha tôi nhận lấy nhìn, trên giấy viết vài dòng chữ xiêu vẹo.
Cha tôi không biết chữ, quay sang dúi vào tay tôi: "Đọc xem, viết cái gì?"
Tôi liếc nhìn, suýt chút nữa thì bật cười.
Trên giấy viết:
"Người này trả lại, miễn thu hồi. Ngoài ra: Chiến tranh không đá/nh nữa, ai về nhà nấy."
Bên dưới còn đóng một cái mộc đỏ, chữ trên mộc không rõ, nhưng đóng bị lệch.
Cha tôi hỏi: "Cái này nghĩa là sao?"
Tên lính cầm đầu bập bẹ giải thích: "Nghĩa là... không đá/nh nữa. Tướng quân nói... đá/nh nhau mấy năm nay, gi*t bao nhiêu người, để làm gì? Chi bằng về nhà làm ruộng."
Một tên lính gật đầu theo: "Đúng, làm ruộng. Nhà tôi còn ba mẫu đất."
Tên khác tiếp lời: "Nhà tôi có vợ."
Tên cuối cùng nghiêm túc bổ sung: "Nhà tôi có một con chó."
Tên cầm đầu lườm họ một cái, quay sang nói với cha tôi: "Tóm lại là... không đá/nh nữa. Đây là... giấy chứng nhận rút quân."
Cha tôi lật đi lật lại tờ giấy mấy lần, cuối cùng cẩn thận gấp lại, nhét vào trong ngựk.
"Được thôi." Ông nói.
Bốn tên lính quay người định đi, đi vài bước lại quay đầu lại, vẻ mặt đầy luyến tiếc.
Tên cầm đầu xoa cái bụng tròn trịa, ấp úng mở lời: "Vậy... thôn của các người... còn nhận người không? Mấy đứa chúng tôi... cũng muốn ở lại..."
Cha tôi ngẩn người: "Các người không phải quân địch sao?"
"Không đá/nh nữa." Tên cầm đầu tháo mũ sắt, bàn tay đầy dầu mỡ quệt vào áo, "Làm ruộng còn thơm hơn đá/nh trận nhiều."
Cha tôi nhíu mày: "Nhưng các người là kẻ th/ù mà."
Tên cầm đầu liếc nhìn đống xươ/ng gà sạch bong trên bàn, nghĩ ngợi một lát rồi l/ột luôn áo ngoài ném sang một bên: "Giờ không phải nữa."
Cha tôi: "..."
Anh hai tôi lập tức sáp lại, mắt sáng rực: "Cha, hay là nhận đi! Họ còn có ba mẫu đất đấy!"
Cha tôi t/át một cái vào đầu anh ấy, cười gượng với tên lính: "Nhận không nổi, nhận không nổi, nhà tôi thực sự nuôi không xuể rồi!"
Bốn khuôn mặt tức thì lộ rõ vẻ thất vọng, ủ rũ quay người bỏ đi.
Anh cả được dìu vào nhà, mẹ tôi nấu cháo cho anh ấy, anh ấy uống một hơi hết tám bát.
Uống xong nằm trên giường, xoa bụng, thở phào nhẹ nhõm: "Vẫn là nhà mình tốt nhất."
Tôi đứng ở cửa, bỗng nhớ lại chuyện lúc nãy.
Bút của tôi mới chạm vào giấy, còn chưa kịp viết gì.
Anh cả đã về rồi.
Chẳng lẽ... cuốn sổ giờ linh thế sao? Nghĩ thôi chưa viết mà đã hiệu nghiệm?
Tôi vào phòng lật cuốn sổ ra, trang giấy đó trắng tinh, chẳng có gì cả.
Lật ngược lại phía trước cũng chẳng có thêm nửa chữ nào.
Lạ thật.
Chuyện này tôi nghĩ cả đêm cũng không thông.
Cho đến tận rất lâu sau, tôi lật cuốn sổ rá/ch của Ngốc Phúc, lật đến trang cuối cùng, mới nhìn thấy một dòng chữ bằng than củi xiêu vẹo, nét chữ nhòe nhoẹt:
Thiên hạ thái bình.
Ngốc Phúc vốn chẳng biết mấy chữ, chắc chắn là nghe người ta lẩm bẩm rồi vẽ theo.
Nó không hiểu bốn chữ này nặng nề đến thế nào.
Có lẽ nó nghe người trong thôn nói chiến tranh làm ch*t bao nhiêu người, có lẽ nghe mẹ tôi lẩm bẩm về việc bao giờ anh cả mới về, chỉ là ngồi xổm bên đường, nhặt một mẩu than củi, vẽ bốn chữ này lên sổ.
Nó chỉ biết, đá/nh nhau là không tốt.
Gi*t người là không tốt.
Người thân không về nhà là không tốt.
Thế nên nó viết.
"Thiên hạ thái bình."
Ngoại truyện
Sau khi anh cả về, nằm liệt ở nhà ba ngày, ngốn hết hơn trăm cái bánh bao, cuối cùng cũng ăn lại được khuôn mặt tròn trịa.