Lý Xuân Mai nói: “Trần Kiến Quốc, ông mà không về nữa thì sau này đừng bao giờ về đây nữa.”
Ông đang cơn gi/ận, đáp lại một câu: “Không về thì không về.”
Đêm hôm sau, bà ấy đi mất.
Ông không kịp nhìn mặt bà lần cuối.
Tại đám tang, con gái khóc lóc m/ắng ông: “Mẹ con đợi ông cả đời, đến lúc ch*t cũng chẳng đợi được ông.”
Sau đó con gái đi xa, không bao giờ trở lại nữa.
Trần Kiến Quốc cai rư/ợu, nhưng bắt đầu m/ua một bao th/uốc lá mỗi đêm.
Ông không hút mấy.
Chỉ là mang theo bên người.
Ông bảo: “Bà ấy trước kia cứ thấy tôi m/ua th/uốc là m/ắng. Nhiều lúc tôi nghĩ, tôi đi m/ua th/uốc, biết đâu bà ấy còn m/ắng được tôi đôi câu.”
Khi nói những lời này, mắt ông đỏ hoe, nhưng không rơi lệ.
Tôi không biết nên khuyên thế nào.
Trên đời này có những nỗi tiếc nuối, người ngoài nói trăm câu “buông bỏ đi” cũng vô ích.
Tôi chỉ hỏi ông: “Nghĩa trang có xa không?”
Bàn tay cầm th/uốc của Trần Kiến Quốc run lên.
“Xa thì không xa.”
“Vậy đi thăm bà ấy đi.”
Ông im lặng.
Tôi chỉ vào tấm biển gỗ trước cửa.
“N/ợ tiền phải trả, n/ợ tình cũng tính. Chú n/ợ bà ấy một lời nói, không thể cứ kéo dài mãi được.”
Ông ngẩng đầu nhìn tấm biển.
Một lúc lâu sau, ông cười khổ: “Cháu thật giống bố cháu.”
Sáng hôm sau, tôi đóng cửa tiệm hai tiếng.
Đi cùng Trần Kiến Quốc đến nghĩa trang.
Trời vẫn âm u, những bậc đ/á ở nghĩa trang trơn trượt.
Ông đứng trước m/ộ Lý Xuân Mai, tay siết ch/ặt bao th/uốc chưa bóc vỏ.
Ban đầu ông chẳng nói được gì.
Sau đó ông ngồi xổm xuống, dùng tay áo lau từng chút một tấm ảnh trên bia m/ộ.
Người phụ nữ trong ảnh mặt tròn, nụ cười rất tươi.
Trần Kiến Quốc bỗng nghẹn ngào.
“Xuân Mai, tôi đến rồi.”
“Tôi biết là muộn rồi.”
“Xin lỗi bà.”
Ông nói xong ba chữ đó,
như thể bị rút cạn sức lực.
Một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, ngồi xổm trước m/ộ khóc như một đứa trẻ.
Tôi đứng cách đó không xa, không lại gần.
Khi gió thổi qua, tôi thấy cửa sổ thông báo trên đầu ông lóe lên.
【Trần Kiến Quốc: N/ợ người vợ quá cố một lời từ biệt. Đã trả xong.】
Cửa sổ thông báo biến mất.
Khoảnh khắc đó, tôi mới chắc chắn.
Tôi không đi/ên.
Tôi thực sự có thể nhìn thấy những món n/ợ mà người khác thiếu.
Trên đường về, Trần Kiến Quốc vứt bao th/uốc vào thùng rác.
“Sau này để cho tôi trà không đường nhé.”
“Vâng.”
Ông đi đến cửa tiệm, bỗng dừng lại.
“Cô bé Hứa.”
“Dạ?”
“Bố cháu từng nói, cửa tiệm này không phải là sợi dây trói buộc cháu.”
Tôi sững người.
“Cái gì ạ?”
Trần Kiến Quốc xua tay: “Ông ấy chỉ nói thế thôi, tôi cũng không nghe hết. Để sau này nhớ ra rồi kể lại cho cháu.”
Ông nói xong liền rời đi.
Tôi đứng trước cửa, trong lòng bỗng có chút rối bời.
Bố tôi từng nói câu này sao?
Ông chưa bao giờ nói với tôi.
Kể từ đó, tôi bắt đầu để ý mọi người vào tiệm.
Đa số mọi người trên đầu không có gì cả.
Số ít người có cửa sổ thông báo.
Ví dụ như cậu học sinh tiểu học lén lấy kẹo mút, trên đầu viết:
【N/ợ chủ quán hai đồng.”
Tôi gọi cậu bé lại, mặt cậu đỏ bừng, ngoan ngoãn trả lại tiền.
Hay như ông cụ ngày nào cũng đến m/ua đồ, trên đầu viết:
【N/ợ vợ một chiếc máy giặt. Quá hạn ba năm.】
Tôi tiện miệng nhắc một câu: “Ông ơi, m/ua cho bà một chiếc máy giặt đi ạ.”
Ông cụ gi/ật nảy mình.
Ngày hôm sau, ông thực sự đến m/ua hai chai nước khoáng, nhờ tôi tra giúp mẫu máy giặt.
Cái thứ cửa sổ thông báo này thật kỳ lạ.
Có người n/ợ tiền, có người n/ợ tình, có người n/ợ một lời nói.
N/ợ càng nặng, chữ càng rõ.
Thứ khó trả nhất, thường không phải là tiền.
Lâm Vãn ở tiệm hoa bên cạnh là rắc rối thứ hai tôi gặp phải.
Cô ấy ba mươi hai tuổi, xinh đẹp, trầm tĩnh, mở một tiệm hoa nhỏ.
Nhiều người đàn ông ở khu phố cổ thích cô ấy.
Có người m/ua hoa để tặng vợ, có người m/ua hoa chỉ để tìm cô ấy nói chuyện.
Cô ấy đều cười lịch sự, giữ khoảng cách rõ ràng.
Tôi vẫn luôn khá quý mến cô ấy.
Cô ấy thường chọn mấy cành hoa sắp héo tặng tôi khi không b/án hết.
“Cắm trong tiệm đi, nhìn cho có chút sức sống.”
Tôi cũng sẽ để dành cho cô ấy một phần oden khi cô ấy bận đến mức không kịp ăn.
Cho đến một buổi chiều nọ, cô ấy đến m/ua sữa chua không đường.
Tôi nhìn thấy cửa sổ thông báo trên đầu cô ấy.
【Lâm Vãn: N/ợ con gái một sự thật. Quá hạn bảy năm.】
Tay tôi khựng lại.
Lâm Vãn không có con.
Ít nhất là với người ngoài, cô luôn nói mình không có con.
Cô ấy nhận ra ánh nhìn của tôi, mỉm cười hỏi: “Sao thế?”
Tôi lắc đầu: “Không có gì.”
Lần này tôi không hỏi liều.
Trường hợp của Trần Kiến Quốc là tình thế cấp bách.
Lâm Vãn thì khác.
Hai chữ “con gái” quá nặng nề, dễ dàng hỏi ra, chẳng khác nào lấy d/ao đ/âm vào vết s/ẹo của người khác.
Nhưng kể từ ngày đó, tôi phát hiện trước cửa tiệm hoa thường xuất hiện một cô bé.
Mười sáu, mười bảy tuổi, mặc đồng phục xanh trắng, đeo chiếc cặp sách rất cũ.
Cô bé không vào tiệm, chỉ đứng bên kia đường nhìn.
Có lúc nhìn Lâm Vãn tỉa cành hoa, có lúc nhìn cô tiễn khách ra về.
Lâm Vãn dường như cũng chú ý đến cô bé.
Có một lần, cô cầm một bó hoa cúc nhỏ đi ra, muốn tặng cho cô bé.
Cô bé lại quay người bỏ chạy.
Buổi tối Lâm Vãn đến cửa hàng tiện lợi m/ua băng cá nhân.
Cô bị thương ở tay khi tỉa hoa hồng.
Tôi lấy th/uốc cho cô, lại không kìm được hỏi: “Cô học sinh dạo này hay đứng trước tiệm của chị, chị có quen không?”
Động tác dán băng cá nhân của cô khựng lại.
“Ai cơ?”
“Cái người hay đứng trước tiệm chị ấy.”
Lâm Vãn cúi đầu.
Một hồi lâu sau,
Cô nói: “Chắc là người qua đường thôi.”
Cô ấy đang nói dối.
Cửa sổ thông báo trên đầu cô chuyển sang màu đỏ.
【Nhắc nhở n/ợ nần: Đang trốn tránh.】
Tôi không hỏi thêm nữa.