Anh đưa chứng chỉ cho tôi, “Anh cũng tốt nghiệp rồi.”
Tôi cố tình lật qua lật lại kiểm tra: “Điểm số bình thường.”
“Môn nào kém?”
“Biết chữ chín mươi điểm, sửa máy móc chín mươi tám điểm.”
“Còn một môn nữa thì sao?”
Tôi ngước mắt: “Gì cơ?”
Anh nhìn tôi, đuôi mắt dần cong lên.
“Làm chồng của Thẩm Tri Vi, được bao nhiêu điểm?”
Tôi nhịn cười: “Môn này phải thi cả đời, bây giờ chưa cho tổng điểm được.”
“Được.” Anh gói lại hai tấm chứng chỉ, “Anh thi mỗi năm.”
Khi đi đến mười mẫu ruộng thí nghiệm đầu tiên năm nào, anh cúi người bốc một nắm đất mới.
Hai mẫu đất từng bị th/uốc đ/ộc h/ủy ho/ại năm xưa, giờ đây cũng đã được trồng giống Lâm Mạch số 1. Gốc rạ cứng cáp, trong vết c/ắt vẫn còn vương dấu vết của nhựa trắng no tròn.
“Năm sau huyện chuẩn bị xây trạm giống tốt.” Tôi nói, “Trạm trưởng Trần muốn để em phụ trách.”
“Chuyện tốt.”
“Sẽ bận hơn, có khi mười ngày nửa tháng không về nhà.”
“Anh sẽ chuyển điểm sửa chữa ra cạnh đường huyện, gần trạm giống hơn.”
“Anh không cần lúc nào cũng phải chiều theo con đường của em.”
“Cạnh đường huyện nhiều máy nông nghiệp qua lại, anh vốn đã muốn chuyển từ lâu.” Anh xòe tay ra, lòng bàn tay vẫn thô ráp, những vết nứt cũ đã thành những đường vân trắng nhạt, “Hai ta mỗi người có một con đường, đoạn nào tiện thì mình cùng giúp nhau một tay.”
Tôi đặt tay vào lòng bàn tay anh.
Anh khép ngón tay lại, nắm ch/ặt lấy tôi một cách vững vàng.
Đằng xa, sân lúa mì mới thắp đèn điện, là đường dây điện làng vừa mới kéo xong. Lũ trẻ chạy đuổi nhau dưới ánh đèn, tiếng cười vang vọng khắp những luống ruộng.
Tôi nhớ đến cái lò bếp kia. Khi tờ giấy báo trúng tuyển bị nhét vào, góc giấy vừa chạm lửa đã cong lên, tôi ngồi xổm dưới đất, đến cả sức để đưa tay ra cũng không có. Chu Nghiên Xuyên đã tay không bới nó ra từ đống tro, đầu ngón tay bị bỏng rộp mấy nốt. Sau này, trên tờ biên lai gửi tiền đầu tiên anh gửi tới, vẫn còn dính chút đất đỏ khi đi khiêng gạch.
Những năm này, bàn học của tôi ngày càng lớn, nông cụ trong tay anh cũng đã đổi thành cờ-lê và sổ sách. Cả hai chúng tôi đều không sống thành dáng vẻ mà người trong làng từng đoán già đoán non ngày ấy.
Thật may mắn.
Cuối bờ ruộng, Triệu Quế Lan cầm đèn pin gọi chúng tôi về ăn cơm.
Chu Nghiên Xuyên đáp một tiếng, dắt tay tôi đi về nhà.
Đi được vài bước, anh hỏi: “Vợ à, năm đó trở về, em có bao giờ thực sự nghĩ đến việc ở lại tỉnh không?”
“Có nghĩ qua.”
Bước chân anh khựng lại, nhưng không buông tay.
Tôi cười, huých nhẹ vào vai anh.
“Ở tỉnh có lò sưởi, có nhà lầu, mỗi tháng bốn mươi tám đồng. Ai mà chẳng muốn?”
“Thế sao còn quay về?”
“Em đã tính một bài toán.”
“Bài toán gì?”
“Tỉnh thiếu một kỹ thuật viên bình thường, nhưng Thanh Thạch Ao lại thiếu một người chịu ở lại. Còn nữa--”
Tôi nhìn anh.
“Ở đây có một người, dùng năm năm thanh xuân nuôi em đi xem thế giới, nhưng chưa bao giờ lấy ân tình để trói buộc em.”
“Sau khi đã thấy thế giới rồi, em càng biết người như vậy khó tìm đến nhường nào.”
Đôi mắt Chu Nghiên Xuyên lại đỏ hoe.
Anh quay mặt đi, cố tình nhìn ra ruộng.
“Lại bị gió thổi vào mắt rồi.”
Tôi không vạch trần anh, chỉ nắm ch/ặt tay anh hơn.
Vụ lúa mì mới đã được gieo hạt.
Đất bùn bao phủ lấy những hạt giống. Chỉ cần thêm một trận tuyết nữa, năm sau chúng sẽ lại nảy mầm xanh.
Còn chúng tôi, sánh vai bước qua những sóng lúa, tiến về phía căn nhà đang thắp đèn sáng trưng.