Bà ta để lại lời đe dọa trước khi đi, nói rằng cây hoa này của ta tuyệt đối không vào được phủ giáo dụ.
Quả nhiên, ngày giao hàng, phu xe bị đ/au bụng không đến.
Ta hỏi ra mới biết, chưởng quầy Tiền đã cho hắn hai trăm văn.
Chỉ còn một canh giờ nữa là khai tiệc.
Thẩm Nghiễn Thu không nói hai lời, buộc cây hoa lên lưng.
"Đi đường thủy."
Ngày đó trên sông ngược gió.
Ông Kh//âu chống sào, thím Đào dẫn lối cho chúng ta trên bờ, chị Trần ôm lồng hoa, Thẩm Nghiễn Thu vác cây hoa cao ba thước trên lưng, chạy một mạch vào phủ giáo dụ.
Trước lúc tiệc mừng thọ bắt đầu một khắc, cây hoa đã đứng vững vàng trên chính đường.
Lão nhân gia tháo chiếc trâm vàng trên đầu, tự tay cắm vào giữa cành đông mai.
"Hoa tuy không tàn, nhưng lại có dáng vẻ của bốn mùa." Bà nói, "Món quà mừng thọ này, ta rất thích."
Bà thưởng thêm cho ta ba lượng.
Khách khứa trong tiệc mừng thọ đã truyền đi danh tiếng cho ta. Kể từ đó, người đến đặt hoa xếp hàng từ sáng đến tận trưa, còn hoa lụa của chưởng quầy Tiền bày trước cửa thì đã phủ một lớp bụi dày.
5.
Ta dùng tám lượng bạc đó, thuê lại mặt tiền nhỏ bên cạnh tiệm đồ gỗ nhà họ Thẩm.
Biển hiệu là tên do Hứa Trường Thuận đặt -- Trường Ninh Nhung Hoa Phố.
Lấy chữ "Trường" của ông, chữ "Ninh" của ta.
Thẩm Nghiễn Thu ngoài miệng nói tầm thường, quay người lại chọn ngay khúc gỗ long n/ão tốt nhất.
Chàng giam mình trong tiệm đồ gỗ bận rộn suốt mấy đêm.
Ngày treo biển, ta mới phát hiện bên cạnh hai chữ "Trường Ninh", còn khắc ẩn một cành nghênh xuân cực nhỏ.
Sau khi tiệm khai trương, ta không chỉ làm hoa cho các cô nương cài đầu nữa.
Phượng quan cho tân nương, cây hoa chúc thọ cho người già, mũ nhung đầu hổ cho trẻ đầy tháng, ta đều nhận hết.
A Mãn mắt tinh tường, phối màu còn đẹp hơn cả người lớn.
Ta dạy con bé c/ắt lụa, móc chỉ.
Con bé không biết nói, liền vẽ những mẫu hoa muốn học lên giấy.
Đến khi sen hạ nở đầy mặt sông, đôi liên hoa mà con bé làm đã b/án được số tiền công đầu tiên của chính mình.
Chị Trần cầm tiền, trốn vào bếp khóc một hồi lâu.
Con dâu nhà thím Đào cũng đến làm công.
Sau đó là cháu gái góa bụa của ông Kh//âu, rồi đến thợ thêu bị nhà chồng đuổi ra khỏi cửa ở phía nam thành.
Sân sau nhỏ bé đặt sáu chiếc bàn dài.
Người c/ắt lụa, người nhuộm màu, người kết hoa.
Các phụ nữ vừa làm việc, vừa bàn tán chuyện đông chuyện tây.
Nhà ai có con ốm, góc bàn sẽ có thêm mấy đồng tiền.
Nhà ai có chồng uống rư/ợu đá/nh vợ, lúc tỉnh rư/ợu luôn thấy một đám các thím đứng trước cửa xắn tay áo chờ sẵn.
Trường Ninh Nhung Hoa Phố ki/ếm được không nhiều, nhưng chưa bao giờ để bất kỳ ai làm việc ở đây phải ra về tay không.
Cha ta không bao giờ bị đ/ứt th/uốc nữa. Nồi th/uốc ở sân sau ngày nào cũng bốc mùi đắng ngắt, ông ngửi thấy là trốn, ta bưng bát đuổi đến đâu, ông ho đến đó.
Ông đã có thể vịn tường đi được mười mấy bước.
Lúc ông vui nhất, chính là ngồi trước cửa đá/nh cờ với Thẩm Nghiễn Thu.
Cờ ông đá/nh không giỏi, nhưng tài hoãn nước đi lại rất cao.
"Nước vừa rồi không tính."
"Hạ cờ không hối."
"Ta là người b/ệnh."
Thẩm Nghiễn Thu bèn im lặng dời quân cờ về chỗ cũ.
Ta ngồi trong quầy xem sổ sách, không nhịn được mà bật cười.
Có lần, ta cười lâu quá, ngẩng đầu lên vừa vặn chạm phải ánh mắt chàng.
Chàng vội vàng cúi đầu, vành tai lại đỏ ửng.
Người này từng chắn bọn l/ưu ma/nh cho ta, vác trăm cân gỗ, lòng bàn tay bị bào gỗ c/ắt trúng cũng chẳng nhíu mày.
Thế mà ta chỉ nhìn chàng thêm một cái, chàng ngay cả quân cờ cũng cầm không vững.
Đến hè, bến Hạnh Hoa xảy ra một trận lũ lớn.
Mưa đổ xuống từ mái hiên, suốt ngày đêm không ngừng. Nước sông nuốt chửng bậc đ/á ở bến tàu trước, đến khi dân phố phản ứng lại, nước đục ngầu đã tràn vào phố Đông.
Trường Ninh Nhung Hoa Phố cũng không tránh khỏi.
Nửa đêm, nước từ dưới ngưỡng cửa tràn vào, những chiếc rương gỗ đựng lụa trôi nổi khắp nơi.
Ta vừa vác Hứa Trường Thuận lên lưng, Thẩm Nghiễn Thu đã đạp tung cửa sau.
"Lên dốc trước."
Ta không chịu.
"Lụa trong kho không thể bỏ, đó là tiền công tháng tới của mọi người."
"Mạng quan trọng hơn lụa."
"Chàng đưa cha ta đi, ta chuyển lụa."
Chàng nhìn ta một cái, không tranh cãi với ta nữa.
Chàng buộc Hứa Trường Thuận lên lưng mình, lội qua dòng nước cao ngang hông đưa đến nơi cao ráo, rồi lập tức quay lại.
Hai chúng ta chuyển từng rương từng rương lên gác lửng.
Nước dâng quá nhanh.
Chiếc rương cuối cùng vừa đẩy lên cầu thang, cửa trước đã "bình" một tiếng bị nước đ/ập vỡ.
Một bàn tay từ bên ngoài thò vào, nắm ch/ặt lấy khung cửa.
Là thím Đào.
Sau lưng bà là ông Kh//âu, chị Trần, và hơn mười người dân phố chống bè tre.
"Còn ngẩn ra đó làm gì?"
Thím Đào lau nước trên mặt.
"Năm xưa con dâu ta sinh con, không gom đủ tiền cho bà đỡ, là ngươi đã ứng trước tiền công cho ta. Nay ngươi gặp nạn, chúng ta còn có thể đứng nhìn sao?"
Ông Kh//âu đặt bè tre chắn ngang cửa.
Chị Trần và A Mãn đứng trên bè tiếp rương.
Đàn ông chuyển vật nặng, phụ nữ bảo vệ lụa, trẻ con ôm sổ sách và mẫu hoa.
Trước khi trời sáng, những gì có thể c/ứu được trong tiệm Trường Ninh, đều đã chuyển đến từ đường trên dốc.
Nhưng xưởng đậu phụ nhà thím Đào lại sập mất nửa bức tường.
Bà ngồi xổm trước đống đổ nát, hồi lâu không lên tiếng.