Tiếng thẻ lên máy bay được in ra rất khẽ, khẽ như một lời tạm biệt chẳng cần ai phải nghe thấy.
Tôi kéo chiếc vali hai mươi inch hướng về phía cửa an ninh, điện thoại rung lên lần cuối cùng.
Là Quý Hoài Sâm: “Bảo bối, cuộc họp kết thúc sớm rồi, anh đang qua đây, em muốn ăn gì?”
Tôi nhìn dòng tin nhắn này trong ba giây.
Rồi tắt máy.
Băng chuyền ở lối kiểm tra an ninh nuốt chửng chiếc vali của tôi, khi nó nhả ra lần nữa, tất cả những gì phía sau lưng đều đã bị ngăn cách bởi cánh cửa kính đó.
Loa phát thanh ở cửa lên máy bay vang lên số hiệu chuyến bay bằng tiếng Anh, số ghế 31A, cạnh cửa sổ.
Tôi tìm chỗ ngồi của mình rồi thắt dây an toàn.
Ngoài cửa sổ là những dải đèn đường băng dày đặc, kéo dài đến nơi không nhìn thấy điểm cuối trong màn sương đêm Giáng sinh.
Bên cạnh không có ai nắm tay tôi.
Tôi ngồi một mình dưới bầu trời đêm ở độ cao ba vạn feet, nhịp tim ổn định, hơi thở đều đặn, lòng bàn tay khô ráo.
Khi máy bay bắt đầu lăn bánh, tôi nghe thấy một cô bé ở hàng ghế sau hỏi mẹ:
“Mẹ ơi, pháo hoa ở Edinburgh có thực sự đẹp không ạ?”
Mẹ cô bé nói: “Tất nhiên rồi, là màn pháo hoa đẹp nhất thế giới đấy.”
Tôi kéo tấm che cửa sổ xuống rồi nhắm mắt lại.
Màn pháo hoa đẹp nhất thế giới, tôi sẽ tự mình đi xem.
Khi máy bay hạ cánh là ba giờ sáng ngày hai mươi lăm tháng mười hai theo giờ địa phương ở Edinburgh.
Lối nhập cảnh gần như không có người, nhân viên hải quan đóng dấu vào hộ chiếu của tôi, bằng giọng Scotland, anh ta nói một câu “Merry Christmas”.
Tôi kéo vali bước ra khỏi sảnh đến, không khí lạnh lẽo ùa vào phổi khiến khoang mũi ngứa ngáy vì giá lạnh.
Bên ngoài sân bay xếp vài chiếc taxi đen, tài xế dựa vào cửa xe hút th/uốc, thấy tôi đi ra liền dập tắt mẩu th/uốc, hỏi tôi bằng tiếng Anh là muốn đi đâu.
Tôi báo địa chỉ căn homestay đã đặt trước trên mạng, một căn phòng áp mái gần khu Grassmarket ở phố cổ.
Chiếc xe chạy qua những con phố vắng tanh, đèn đường trong sương m/ù hóa thành từng đốm màu cam.
Tài xế nhìn tôi qua gương chiếu hậu: “Đi đón Giáng sinh một mình à?”
Tôi nói phải.
Ông ấy gật đầu:
“Mùa đông ở Edinburgh lạnh muốn ch*t, nhưng pháo hoa đêm giao thừa rất đáng giá, cô đến đúng chỗ rồi đấy.”
Chủ nhà homestay là một bà lão người Scotland tóc bạc phơ, quấn chiếc khăn choàng kẻ caro đứng đợi tôi ở hành lang.
Khi dẫn tôi lên cầu thang hẹp, bà nói tòa nhà này đã có ba trăm năm lịch sử, sàn nhà bước vào kêu kẽo kẹt, nhà bên cạnh có một nữ họa sĩ người Nhật ở, rất yên tĩnh.
Căn phòng áp mái không lớn, qua cửa sổ trời trên mái dốc có thể nhìn thấy một mảng trời nhỏ, giường chiếu sạch sẽ, ống dẫn sưởi phát ra tiếng o o.
Tôi mở vali ra, không vội vàng thu dọn.
Trước tiên là bật điện thoại lên.
Khi màn hình sáng lên, tin nhắn ùa vào như thác lũ.
Cuộc gọi nhỡ của Quý Hoài Sâm: mười bảy cuộc.
Tin nhắn WeChat xếp hàng từ tám giờ tối đến một giờ sáng.
“Đến nhà em rồi, cửa khóa, em ra ngoài à?”
“Gọi em không được, em đang ở đâu?”
“Thanh Ngô, em đừng làm lo/ạn nữa, anh không cố ý đến muộn đâu.”
Ba phút sau nửa đêm: “Tô Thanh Ngô, rốt cuộc em đi đâu rồi, gọi lại cho anh.”
Tin nhắn cuối cùng là lúc một giờ mười lăm phút sáng, là tin nhắn thoại, tôi không nhấn vào nghe.
Tin nhắn của Hạ Dữ Ca ít hơn, nhưng tần suất cao hơn.
“Thanh Ngô, cậu làm mình sợ ch*t khiếp, Hoài Sâm nói không liên lạc được với cậu?”
“Cậu làm rơi điện thoại ở đâu à? Mình bảo Hoài Sâm qua mấy chỗ cậu hay đến tìm rồi.”
“Cậu mà thấy tin nhắn thì trả lời ngay đi, Hoài Sâm sắp phát đi/ên rồi.”
Tôi xem hết tất cả tin nhắn, không trả lời bất cứ dòng nào.
Rồi mở cài đặt WeChat, đồng thời để chế độ “Không làm phiền” cho cuộc trò chuyện với Quý Hoài Sâm và Hạ Dữ Ca.
Không phải chặn.
Chặn sẽ khiến họ x/ác nhận rằng tôi đang gi/ận dỗi, rồi khởi động quy trình xoa dịu thường lệ.
Xin lỗi, dỗ dành, dùng cái cớ “vì tốt cho em” để ấn tôi trở lại vị trí cũ.
Chỉ cần “Không làm phiền” là đủ.
Tôi không biến mất, cũng không xuất hiện.
Bầu trời ngoài cửa sổ trời chuyển từ màu xanh mực sang màu xám trắng, bình minh ở Edinburgh đến rất chậm.
Tôi ngủ bốn tiếng trong tiếng o o của ống dẫn sưởi, khi tỉnh dậy, ánh nắng chiếu xiên qua cửa sổ trời, soi lên chiếc máy ghi âm chưa bóc tem bên cạnh gối.
Dưới lầu truyền đến tiếng gõ cửa.
Giọng của bà lão chủ nhà xuyên qua cánh cửa:
“Chào buổi sáng, cưng à, cô Yuko nhà bên cạnh mới nướng bánh scone, hỏi cháu có muốn ăn sáng cùng không?”
Tôi do dự hai giây.
Nếu là trước đây, tôi sẽ nói là không cần.
Hôm nay tôi mở cửa.
Trong căn bếp nhỏ cuối hành lang, một người phụ nữ Nhật Bản tóc ngắn đang đổ bột vào khay nướng, trên tạp dề dính vài vệt màu vẽ đã khô.
Cô ấy ngẩng đầu thấy tôi, gật đầu một cái, tiếng Anh không được lưu loát lắm:
“Chào bạn, mình là Yuko, tối qua nghe tiếng bạn chuyển hành lý, nghĩ chắc là bạn đói rồi.”