“Ca ca, ta không đói.” Nó ngược lại an ủi ta, móc từ trong ngựk ra nửa cái bánh khô, cố nhét vào tay ta, “Huynh đi đường núi, huynh ăn đi.”
Phía sau truyền đến tiếng kẽo kẹt của đò/n khiêng kiệu. Kiệu nhỏ của quản gia Hồ đã đuổi kịp, chuyên tâm đốc thúc cỗ bàn.
Mành kiệu vừa vén, lão thò ra nửa khuôn mặt, vừa vặn nhìn thấy cái bát vỡ trong tay Tiểu Mãn.
“Thằng ăn mày ở đâu ra, chặn đường cỗ của quý nhân?”
Kiệu còn chưa dừng hẳn, lão đã tung một cước. Cái bát vỡ bay xa cả trượng, đ/ập vào lan can cầu, vỡ thành bốn năm mảnh.
“Quản gia, nó là đứa trẻ ta quen, ta bảo nó tránh ra là được.”
“Ngươi quen?” Quản gia cười, “Phu khuân vác hèn mọn quen thằng ăn mày nhỏ, đúng là môn đăng hộ đối. Nhặt lên.”
“Cái gì?”
“Mảnh bát. Đêm nay quý nhân đi qua cây cầu này, nhìn thấy vật uế tạp, làm hỏng mặt cỗ, ngươi đền nổi không? Quỳ xuống, nhặt sạch từng mảnh cho ta.”
Tiểu Mãn định xông lên, ta đưa tay ấn nó lại.
Ta đặt đò/n gánh xuống cho vững, ngồi xổm xuống nhặt mảnh bát. Không phải quỳ, là ngồi xổm. Quản gia cũng không tính toán, vén mành nhìn, xem một cách đầy thú vị.
“A Kỳ, mẹ ngươi năm đó, hiểu chuyện hơn ngươi nhiều.”
Tay nhặt mảnh bát của ta khựng lại nửa nhịp.
Năm năm trước cũng là một đêm như thế này. Mẹ nhận chuyến khế ước đêm mưa, đưa cỗ lên Tây Sơn. Trước khi đi, mẹ để lại đèn dẫn đường cho ta, bảo rằng chủ nhà chuyến này hào phóng, tiền thưởng đủ để may cho ta bộ áo bông mới.
Mẹ không trở về.
Ngày hôm sau, trên đường núi chỉ tìm thấy nửa chiếc giày. Chưởng quầy Bạch trong tiệm gảy bàn tính, đầu cũng không ngẩng lên: “Khế ước là tự bà ấy tranh giành nhận lấy, trách được ai? Nè, cái đèn này, đền cho ngươi.”
Cái đèn đó, chính là ngọn đèn dẫn đường ta đang dùng hiện nay. Trên đế đèn vẫn còn vệt mờ do mồ hôi tay của mẹ thấm vào.
“Hiểu chuyện?” Ta gom mảnh bát cuối cùng vào lòng bàn tay, đứng dậy, “Mẹ ta hiểu chuyện cả đời, đổi lấy nửa chiếc giày. Quản gia, sự hiểu chuyện của phủ họ Hồ các ngươi, giá cả không cao nhỉ.”
Quản gia nheo mắt.
“Miệng vẫn cứng.” Lão hạ mành kiệu xuống, “Đi thôi. Phía sau còn chín mươi sáu mâm, đủ cho ngươi cứng cả đêm.”
Kiệu đi trước. Ta lại gánh lên vai, đò/n gánh ấn sâu vào vết chai cũ.
Tiểu Mãn chạy theo hai bước, kéo kéo vạt áo ta, giọng hạ xuống cực thấp.
“Ca ca, đêm qua đệ thấy một chuyện, vẫn không dám nói.”
“Nói.”
“Đêm qua nửa đêm về sáng, có một kẻ đeo găng trắng, ngồi xổm ngoài lều của huynh--”
Nó nhìn quanh rồi ghé sát tai ta.
“Đối diện với ngọn đèn dẫn đường của huynh, từng hơi từng hơi thổi khí vào.”
Đền Sơn Thần đã đến.
Trên sân trống trước đền, đèn lồng treo cao, gia đinh phủ họ Hồ xếp thành hai hàng, ai nấy đều buông tay đứng thẳng, thẳng đến mức không giống người sống.
Canh ba đúng, gió âm nổi lên.
Một chiếc kiệu đen không người khiêng, tự mình từ đường núi trôi xuống, đỗ trước cửa đền. Từ trong kiệu, một kẻ mặc áo bào đen bước ra, mũ trùm kéo rất thấp, không nhìn thấy mặt.
Quản gia Hồ chạy bước nhỏ lên trước, lưng cong thành một cánh cung.
“Quý nhân đi đường vất vả! Mâm cỗ đã chuẩn bị một trăm bàn, đều là tâm ý của Tam Thái Gia!”
Kẻ áo đen không đáp lời, mũi hít hít, mũ trùm quay lại, đối diện thẳng với ta.
“Trên người tên phu khuân vác này, có mùi đèn.”
“Bẩm quý nhân, phu khuân vác sơn dã, trên người có mùi gì cũng chẳng lạ, xúi quẩy lắm.” Quản gia cười làm hòa, “Người đâu, bày cỗ!”
Ta dỡ gánh mở lồng. Khi mâm thứ ba mươi bảy được lấy ra, quản gia đích thân ra tay bưng một chiếc chén lưu ly, nói là để bày ở vị trí chủ tọa.
Lão bưng đi được hai bước, tay nghiêng một cái.
“Choang.”
Chén lưu ly rơi xuống đ/á xanh, vỡ tan tành.
Trước đền yên tĩnh như ch*t.
Quản gia cúi đầu nhìn mảnh vỡ, rồi ngẩng đầu lên, trên mặt lại mang vẻ bi phẫn.
“A Kỳ! Ngươi gánh không vững, làm nứt đáy chén! Chiếc chén lưu ly này của Tam Thái Gia là được thỉnh từ m/ộ tiền triều, ngươi đền đi!”
“Chén là ngươi bưng, ngươi làm vỡ. Hơn ba mươi người ở đây đều nhìn thấy.”
“Ai nhìn thấy?” Quản gia nhìn quanh một vòng, “Các ngươi ai nhìn thấy?”
Hai hàng gia đinh đồng loạt lên tiếng, giọng nói giống hệt nhau: “Là phu khuân vác làm nứt.”
Ngay cả khẩu hình cũng giống hệt nhau.
“Nghe thấy chưa?” Quản gia xòe tay, “Nhân chứng đầy đủ. Một chiếc chén lưu ly tiền triều, định giá ba trăm lượng. Ngươi đền nổi bạc, hay là đền nổi mạng?”
“Ta đền không nổi.”
“Đền không nổi thì cầm cố đồ vật.” Ánh mắt lão rơi xuống cạnh đò/n gánh của ta-- ngọn đèn dẫn đường.
“Đèn không cầm.” Ta nói, “Đèn của phu khuân vác đêm, ngang với mạng.”
“Chà,” quản gia cười, “Ngươi cũng biết là ngang với mạng à? Vậy thì tốt. Cầm mạng.”
Hai gia đinh bước lên, trái phải kẹp lấy cánh tay ta. Bàn tay đó lạnh ngắt, cách lớp áo mà vẫn thấu xươ/ng. Quản gia cúi người, nhấc ngọn đèn dẫn đường của ta lên, hướng về phía miệng đèn, chậm rãi thổi một hơi.
Ngọn lửa đèn chao đảo ba cái rồi tắt ngấm.
“Đèn ta giữ trước. Cỗ đưa xong, tiền đền bù thanh toán sạch, trả lại cho ngươi.” Lão đưa đèn cho tùy tùng, rồi lại rút từ trong tay áo ra một tờ giấy vàng, “Còn cái này. Đơn bảo đảm trăm mâm. Chín mươi mấy mâm còn lại, dọc đường nếu h/ồn sợ, thức ăn lạnh, mùi vị biến đổi, tất cả tính là phu khuân vác sơ suất, lấy h/ồn trừ n/ợ. Ký đi.”
“Ta không ký.”
“Chưởng quầy Bạch!” Quản gia cất tiếng.
Chưởng quầy Bạch không biết đã lên núi từ lúc nào, chen từ đám người ra, thở hổ/n h/ển.
“Có, có, có!”
“Ngươi là chủ của nó, ngươi nói xem, nó ký hay không?”