Tầm mắt người hướng về phía chân núi Từ Hàng, nơi đó chính là ngôi chùa Từ Hàng tọa lạc.
Ta theo nương đến chùa, nương tìm một vị hòa thượng, sau khi đưa cho người ấy một túi nhỏ, vị sư đó dẫn chúng ta đến một căn phòng nhỏ ở hậu đường.
Trong phòng chỉ có một chiếc giường gỗ, một cái rương gỗ, một chiếc bàn vuông và một chiếc ghế không tựa lưng.
Ngoài ra chẳng còn gì khác, vô cùng thanh tịnh.
Nước mưa dọc theo mái hiên, treo lơ lửng xuống đất như những chuỗi hạt trong suốt.
Không khí trong núi mát mẻ hơn dưới huyện, đây là thế giới mà ta chưa từng thấy khi còn ở nhà.
"Lục Đậu." Nương gọi ta từ phía sau, người ngồi ngay ngắn trên giường nhìn ta.
"Con đã mười ba tuổi, cũng đã lớn rồi, có vài lời nương muốn nói với con. Cha con, những năm gần đây đã khác xa với người mà nương quen biết thuở ban đầu.
Ngày thành thân, mẹ chồng vẫn còn, nương vì báo đáp ân tình của bà dành cho nhà họ Thượng chúng ta lúc bấy giờ nên mới kết duyên cùng cha con. Nay cha con công thành danh toại, cũng chẳng cần đến nương nữa. Nương tự mình tuân theo ý nguyện, nhân lúc ông ấy thăng tiến, nương từ nay sẽ ở lại chùa Từ Hàng tu hành."
Khi nói những lời này, gương mặt người vô cùng nhẹ nhõm, chắc hẳn đã suy nghĩ kỹ càng từ lâu.
"Nếu con mong muốn theo cha con đến Hạ Châu, sáu ngày nữa hãy về nhà chờ đợi, ắt sẽ có xe đón con đi. Chỉ là nương, tuyệt đối không muốn sống lại những ngày tháng đó nữa."
Ta quỳ ngồi bên cạnh nương, gối đầu lên gối người.
Rời xa cha, rời xa Hồng Đậu ngày ngày chế giễu ta, nghĩ lại cũng chẳng phải là chuyện gì đ/áng s/ợ.
"Nhưng theo nương, con sẽ phải chịu khổ." Nương vuốt tóc ta, không giấu nổi vẻ lo âu.
Ta quay đầu nhìn người đáp: "Con không sợ, thưa nương. Ở cùng nương, đời nào có khổ."
Lời này là thật lòng, nhưng cuộc sống trong chùa quả thực thanh đạm hơn dưới núi.
Hòa thượng không ăn đồ mặn, mà với kẻ đang tuổi lớn như ta, thức ăn như vậy vốn chẳng đủ đầy.
Chúng ta chỉ có thể xuống núi bảy ngày một lần, m/ua chút trứng gà và th!t nạc, rồi mang lên núi tự nấu nướng.
Thứ còn lại trong tay nương là của hồi môn mà tổ mẫu để lại cho người trước khi qu/a đ/ời. Nếu cứ sống đơn giản thế này, cũng có thể sống tốt được vài năm.
Nương thực lòng muốn tu hành, sáng sớm tụng kinh, theo các sư thầy quét dọn Phật đường.
Gặp ngày Phật đản hay mùng một, ngày rằm, người lại theo chân khách hành hương dâng hương.
Còn ta, ta quen được một tiểu hòa thượng.
Tiểu hòa thượng tên Quy Viên, nhỏ hơn ta một tuổi, có đôi khi nó lười biếng không muốn tụng kinh, lại cùng ta chạy ra bờ suối sau núi chơi nước.
Ta hỏi Quy Viên, sao còn nhỏ tuổi đã làm hòa thượng.
Quy Viên bảo, nó vốn nhà nghèo. Gia đình nghèo đến mức không nuôi nổi nữa, đặt nó trước cổng chùa rồi rời đi.
Sư thầy từ bi, nuôi nó khôn lớn. Nhưng nó xem kinh Phật thì luôn dễ bị chóng mặt, các sư phụ nói nó chưa khai trí, đợi thêm một năm hãy đọc.
Năm đó, lần đầu tiên đón năm mới trong chùa, ta và Quy Viên lén lấy rư/ợu đặt trên án thờ.
Nó một ngụm, ta một ngụm, cứ thế uống cạn. Rư/ợu đó có lẽ là rư/ợu mới ủ, uống vào chẳng thấy cay nồng.
Chúng ta trốn sau bức tượng Phật vàng óng mà uống say, sau đó bị ph/ạt quét dọn đại điện suốt một tháng.
Đêm đó, ngắm nhìn ánh sao sâu thẳm ngoài mái nhà thủng lỗ chỗ của đại điện.
Ta nghĩ, mất cha thì đã sao, ta rồi cũng sẽ lớn lên thôi.
So với Quy Viên, kẻ lớn lên trong chùa từ nhỏ nhưng tâm không vướng bận, thì nỗi phiền muộn của ta đã là thứ mà nó hằng mong ước.
Nếu thế đạo yên bình, cuộc đời ở trong chùa này cũng là một đời tốt đẹp lắm rồi.
Nhưng sự đời vô thường.
Sau khi ổn định trong chùa, những lúc rảnh rỗi, nương bắt đầu dạy ta đọc sách viết chữ.
Người từ nhỏ đã được cha mình dạy dỗ phải chăm chỉ đọc sách, nên dù ta đã lên núi ở chùa, người vẫn không từ bỏ việc cho ta đi học.
Trong chùa không có thầy, người dùng thời gian sau khi quét dọn xong để dạy ta học.
"Học mà không suy nghĩ thì sẽ tối tăm, suy nghĩ mà không học thì sẽ nguy hiểm."
"Chí khí thanh tân, thực hành để vươn xa. Đi xa bắt đầu từ gần, kiên trì không lười biếng."
Người không dạy ta đọc "Nữ Đức", "Nữ Huấn". Bởi người nói: "Đất trời bao la, đủ dung chứa một nữ tử tự do là chính mình."
Khi ấy ta bắt đầu hoài nghi, cha n/ợ nhà nương ân tình lớn đến mức nào mà nương lại gả vào đó.
Người định dành cả quãng đời còn lại tu hành trong chùa, nhưng người cảm thấy ta không cần phải như vậy.
Ta đọc sách hay, viết chữ đẹp, sau khi trưởng thành có thể xuống núi như người năm xưa, giúp thương nhân viết thư, cũng là cách để tự lập mưu sinh.
Trên núi ẩm thấp, các hòa thượng đều luyện võ để rèn luyện thân thể. Nữ tử vốn có thế yếu về sức mạnh, nên ta bắt đầu học b/ắn cung.
Ta và Quy Viên dần dần lớn lên, nó đã đọc thông kinh kệ, còn thuật b/ắn cung của ta cũng ngày một tinh thông.
Nhưng hương hỏa trong chùa lại không được như trước. Nghe nương kể, gần đây thế đạo không bằng xưa, nước láng giềng lo/ạn lạc, có không ít dân lưu vo/ng chạy trốn sang Đại Dục. Dân làng đều giảm bớt việc đi lại.
Đêm trăng tròn treo cao, cổng chùa đã đóng.
Ta đang đứng dưới ánh trăng phiền muộn, nghĩ xem bao giờ mới có thể xuống núi.
Thì chợt nghe thấy tiếng đá/nh nhau văng vẳng ngoài chùa.
Ta mang theo cung tên leo lên đầu tường, chỉ thấy ba gã đàn ông vạm vỡ đang vây quanh một người khác mà ch/ém gi*t.
Tiếng gươm đ/ao va chạm ngay trước mắt, không kịp nghĩ ngợi nhiều, ta giương cung b/ắn thẳng vào mắt cá chân của một gã đang cầm đ/ao.