Tôi đã đọc lá thư này vô số lần, mỗi lần đọc đều khóc. Nhưng hôm nay tôi không khóc.
Tôi gấp lá thư lại, cho vào túi hồ sơ, rồi đứng dậy, bước đến bên cửa sổ sát đất.
Thành phố bên ngoài đèn đuốc sáng trưng. Trên bầu trời đêm có một ngôi sao đặc biệt sáng, sáng hơn tất cả những ngôi sao xung quanh.
“Tiêu Trạch An,” tôi khẽ nói, “Em vẫn chưa muốn đi tìm anh. Em vẫn chưa sống đủ. Em vẫn còn muốn đưa công ty lớn mạnh hơn nữa, vẫn muốn thay anh đi ngắm nhìn những ngọn núi con sông mà anh chưa kịp thấy, vẫn muốn thay anh phụng dưỡng bố mẹ đến cuối đời. Anh đã đợi tám nghìn năm rồi, chắc không kém gì mấy chục năm này đâu nhỉ.”
Ngôi sao đó khẽ chớp động. Như thể đang hồi đáp.
Tôi mỉm cười.
Năm ba mươi tuổi, tôi đến Tây Tạng.
Đó là nơi nằm trong danh sách mong ước của Tiêu Trạch An. Tôi tìm thấy nó trong ngăn kéo bàn làm việc của anh, một tờ giấy ghi chú đã ố vàng, liệt kê những việc anh muốn làm trong đời: Cùng Liễu Vân ngắm bình minh một lần (đã hoàn thành), nấu cho Liễu Vân một bữa cơm (đã hoàn thành), đưa Liễu Vân đi Tây Tạng (chưa hoàn thành), cùng Liễu Vân sống đến đầu bạc răng long (chưa hoàn thành).
Tôi thay anh hoàn thành mục thứ ba. Nước hồ Namtso xanh đến mức không chân thực, những ngọn núi tuyết soi bóng trên mặt hồ, tựa như trời và đất đã hòa làm một. Tôi gấp tờ giấy ghi chú thành một con thuyền nhỏ, nhẹ nhàng thả xuống mặt hồ. Con thuyền giấy trôi đi rất xa, rất xa, cho đến khi không còn thấy bóng dáng.
“Mục thứ tư em không thể thay anh hoàn thành,” tôi nói với mặt hồ, “Nhưng anh đã cho em mệnh số, em có thể sống đến già một mình. Coi như thay anh hoàn thành một nửa vậy.”
Ba mươi ba tuổi. Tôi tài trợ cho một nhóm học sinh nghèo. Trong đó có một cô bé đặc biệt thông minh, thi đỗ vào trường luật. Nó hỏi tôi tại sao lại tài trợ cho nó, tôi bảo vì từng có người nói với tôi rằng, làm người, quan trọng nhất là sự công bằng. Cháu học luật, sau này có thể thay người khác đòi lại công đạo. Cô bé nói cảm ơn chị, tôi bảo không cần cảm ơn, cháu cứ học tập thật tốt là được. Sau khi nó đi, tôi đã thẫn thờ rất lâu. Vì câu “làm người phải công bằng” đó, chính là câu Tiêu Trạch An từng viết trong nhật ký lớp hồi cấp ba. Tôi đã vô thức bắt đầu thay anh nói những lời mà anh có thể sẽ nói.
Ba mươi lăm tuổi. Bố mẹ giục tôi tìm người khác. Không phải ép tôi, mà là vì thương tôi. Mẹ nói: “Vân Vân, con một mình gồng gánh bao nhiêu năm nay, mẹ nhìn mà xót xa. An An là một đứa trẻ tốt, nhưng nó đã đi lâu như vậy rồi, con cũng nên nhìn về phía trước chứ.”
Tôi không phản bác, chỉ đưa tờ giấy “Sống đến khi gặp lại ta” cho mẹ xem. Mẹ xem xong, đã khóc một trận. Sau đó bà không bao giờ nhắc lại chủ đề này nữa.
Ba mươi tám tuổi. Lễ kỷ niệm mười năm thành lập công ty, tôi đứng trên sân khấu phát biểu. Dưới khán đài là biển người, có nhân viên, có đối tác, có bạn bè truyền thông. Đèn sân khấu chiếu rọi lên người tôi, tôi mặc bộ đồ công sở màu đen, tóc búi cao. Phóng viên nói tôi là “nữ cường nhân trẻ tuổi nhất giới kinh doanh”, nhưng chính tôi biết, điểm yếu của tôi chưa bao giờ thay đổi.
Sau khi bài phát biểu kết thúc, có nhân viên hỏi tôi: “Sếp Liễu, mười năm qua điều gì khiến chị tự hào nhất?” Tôi gần như không cần suy nghĩ đã trả lời: “Điều tự hào nhất là, tôi đã không phụ sự kỳ vọng của một người đối với mình.”
Bốn mươi tuổi. Tôi không còn trẻ nữa. Đuôi mắt bắt đầu xuất hiện những nếp nhăn nhỏ, mai tóc cũng đã lấm tấm vài sợi bạc. Nhưng tôi không lo lắng. Vì mỗi nếp nhăn, mỗi sợi tóc bạc, đều đưa tôi đến gần hơn với tuổi chín mươi bảy. Đến gần hơn với anh.
Bốn mươi lăm tuổi. Bố mẹ lần lượt qu/a đ/ời. Đầu tiên là bố, đột quỵ vì b/ệnh tim, đi rất nhanh, không phải chịu nhiều đ/au đớn. Sau đó là mẹ, chưa đầy nửa năm sau khi bố đi, bà cũng thanh thản ra đi trong giấc ngủ. Tôi ch/ôn cất họ trong nghĩa trang, bia m/ộ nằm sát cạnh nhau. Ngày hạ táng, trời đổ mưa phùn. Tôi cầm ô đứng trước m/ộ, bỗng cảm thấy phía sau có người. Tôi gi/ật mình ngoảnh lại—không có ai. Nhưng trong không khí có một luồng hơi thở rất nhạt, rất nhạt. Tôi nói: “Tiêu Trạch An, có phải anh đến đón bố mẹ không?” Tiếng mưa trả lời tôi.
Bốn mươi tám tuổi. Tôi bắt đầu rút dần khỏi việc quản lý hàng ngày của công ty, chỉ giữ chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị. Thời gian còn lại dành cho du lịch và viết lách. Tôi đến Iceland ngắm cực quang, đến châu Phi xem cuộc di cư của động vật, đến Nam Mỹ ngắm “gương trời”. Mỗi nơi đi qua, tôi đều thắp một cây nến trong chùa hoặc nhà thờ địa phương, không viết tên, chỉ viết bốn chữ: “Đợi em trở về.”
Năm mươi lăm tuổi. Lâm Niệm Niệm cũng đi rồi. U/ng t/hư vú, phát hiện ra đã là giai đoạn cuối. Những ngày cuối cùng, tôi túc trực bên giường b/ệnh của cậu ấy. Cậu ấy g/ầy guộc như một chiếc lá khô, nhưng ánh mắt vẫn còn sáng. “Liễu Vân,” cậu ấy nắm tay tôi, giọng yếu ớt nhưng rõ ràng, “Cậu nói xem, người ch*t rồi có thực sự đi đến một thế giới khác không?”
“Có.” Tôi nói.
“Vậy cậu sẽ đi tìm anh trai cậu chứ?”
“Sẽ.”
Cậu ấy mỉm cười: “Vậy lúc đó nhớ đến tìm tớ chơi nhé. Tớ ở bên kia cũng muốn làm bạn thân của cậu.”
Tôi nắm tay cậu ấy nói được. Đêm đó cậu ấy đi, đi rất thanh thản. Tôi thay cậu ấy khép mắt lại, túc trực trong linh đường ba ngày. Sau đó tôi về nhà, nói với bức ảnh của Tiêu Trạch An: “Niệm Niệm đi tìm anh rồi đấy.”