Anh giúp em chăm sóc cậu ấy thật tốt nhé.”
Sáu mươi ba tuổi. Công ty đã bàn giao cho quản lý chuyên nghiệp, tôi chính thức nghỉ hưu. Tóc đã bạc một nửa, bước chân cũng chậm hơn xưa. Nhưng mỗi ngày tôi vẫn làm một việc—sáng sớm đun một ấm nước, rót hai cốc. Một cốc đặt trước ảnh anh, một cốc mình tự uống. Thói quen này duy trì hơn ba mươi năm nay, chưa bao giờ gián đoạn.
Bảy mươi tuổi. Cơ thể bắt đầu xuống dốc. Đầu gối không tốt lắm, đi lại phải chống gậy. Tim cũng không ổn, bác sĩ bảo phải giữ tinh thần vui vẻ. Tôi cười bảo tâm trạng tôi luôn rất vui vẻ. Bác sĩ không biết tôi đang đợi điều gì.
Bảy mươi lăm tuổi. Tôi chuyển vào viện dưỡng lão. Căn phòng hướng Nam ấy, có khung cửa sổ rất lớn, có thể tắm nắng. Tôi đặt ảnh Tiêu Trạch An ở đầu giường, bên cạnh là chiếc nhẫn hình mây quấn cành trúc. Chiếc nhẫn ấy tôi đeo cả đời, sau khi khớp ngón tay to ra không đeo vừa nữa, tôi liền xâu vào sợi dây đỏ đeo trên cổ. Mỗi tối tôi đều nắm lấy nó đi ngủ, giống như cách anh nắm tay tôi ngày trước.
Tám mươi tuổi. Trí nhớ của tôi bắt đầu mơ hồ. Nhiều chuyện không nhớ rõ, hôm qua ăn gì, vừa nói câu gì, đều không nhớ nổi. Nhưng có một người, tôi luôn khắc ghi. Đôi mày, ánh mắt, giọng nói của anh, câu anh nói “Liễu Vân, em là người đẹp nhất mà anh từng gặp”. Những điều này tôi nhớ rõ mồn một, còn rõ hơn cả tên của chính mình.
Tám mươi lăm tuổi. Hộ lý ở viện dưỡng lão là một cô gái trẻ tên Tiểu Chu. Cô bé rất thích nghe tôi kể chuyện. Có lần cô bé hỏi: “Bà Liễu, điều hối tiếc nhất cuộc đời bà là gì?” Tôi suy nghĩ một chút rồi đáp: “Không được đi tuần trăng mật với ông ấy.” Tiểu Chu hỏi ông ấy là ai, tôi bảo là chồng tôi. Cô bé lại hỏi ông ấy đang ở đâu. Tôi nhìn bầu trời ngoài cửa sổ nói, ông ấy đang đợi bà.
Chín mươi tuổi. Cơ thể tôi đã yếu đến mức gần như không thể xuống giường. Nhưng tôi kiên trì mỗi ngày bắt Tiểu Chu kéo rèm cửa ra. Tôi muốn nhìn bầu trời. Nhìn ngôi sao đặc biệt sáng kia.
Chín mươi ba tuổi. Năm đó tôi bị một trận ốm nặng, suýt chút nữa là đi rồi. Hôn mê suốt ba ngày, tỉnh lại câu đầu tiên là: “Anh ấy đến chưa?” Tiểu Chu gi/ật mình, hỏi ai đến. Tôi bảo không có gì. Nhưng trong lòng tôi biết, anh ấy vẫn chưa đến đón tôi. Vì anh ấy đang đợi tôi sống đến ngày cảm thấy đã đủ rồi.
Chín mươi lăm tuổi. Tôi đã không còn nói được mấy nữa. Tay cũng không viết được chữ. Nhưng mỗi ngày tôi vẫn xem bức ảnh đó, xem rất lâu, rất lâu. Tiểu Chu nói đôi khi cô thấy tôi lẩm bẩm một mình. Cô không dám làm phiền, chỉ đứng từ xa nhìn.
Chín mươi sáu tuổi. Bác sĩ nói tôi không qua nổi mùa đông năm nay. Tôi nghe xong không thấy sợ hãi, ngược lại còn thấy rất vui. Tôi bảo Tiểu Chu giúp tôi tháo chiếc nhẫn trên cổ xuống, đặt vào lòng bàn tay. Mùa đông năm ấy đặc biệt lạnh, nhưng trong lòng tôi rất ấm.
Chín mươi bảy tuổi. Xuân đã đến.
Một ngày tháng Ba. Một buổi chiều nắng rất đẹp.
Tôi nằm trên giường, cửa sổ mở, gió xuân thổi rèm cửa đung đưa. Bên ngoài có tiếng chim hót, có những cánh hoa anh đào bị gió thổi bay vào, rơi trên chăn. Màu hồng, bé xíu, giống như những bông hoa linh lan tôi ôm trong ngày cưới năm nào.
Tiểu Chu ngồi bên giường, nắm tay tôi. Cô bé biết tôi có lẽ không qua nổi hôm nay, hốc mắt đỏ hoe.
“Bà Liễu, bà phải thật tốt nhé.” Cô bé nghẹn ngào nói.
Tôi nhìn cô bé, bỗng thấy cô bé rất giống Lâm Niệm Niệm thời trẻ. Tôi cử động môi, muốn nói gì đó nhưng không phát ra tiếng. Tiểu Chu ghé tai lại gần.
“Đeo nhẫn vào cho bà.” Tôi khó khăn thốt ra mấy chữ này.
Cô bé vừa khóc vừa lồng chiếc nhẫn hình mây quấn trúc vào ngón tay g/ầy guộc của tôi. Chiếc nhẫn đã quá rộng, lỏng lẻo treo trên đ/ốt ngón tay. Nhưng khoảnh khắc đeo vào, tôi bỗng thấy có gì đó khác biệt.
Trong không khí, bắt đầu xuất hiện một mùi hương rất nhẹ, rất nhẹ.
Mùi hương ấy, xuyên qua dòng thời gian bảy mươi năm, vẫn quen thuộc đến mức khiến tôi muốn khóc. Như mùi mực trong thư phòng anh, như mùi xà phòng trên áo sơ mi của anh, như ánh trăng đêm anh rời đi. Tiểu Chu bỗng nói: “Bà Liễu, bà có ngửi thấy gì không? Thơm quá.”
Tôi mỉm cười. Suốt bảy mươi năm qua, tôi đã cười vô số lần, nhưng lần này giống nụ cười khi tôi lén nghe tiếng lòng anh trong chiếc cũi trẻ em nhất.
Tôi ngước mắt, nhìn về phía cửa. Ở đó đứng một thanh niên mặc áo bào đen. Tóc đen như thác, môi đỏ răng trắng. Giống hệt bảy mươi mốt năm trước trong điện Diêm Vương ở âm phủ. Không, không giống. Ánh mắt anh không giống. Khi đó ánh mắt anh xa cách, xét nét, mang theo chút dung túng bất đắc dĩ lại buồn cười. Còn lúc này, trong đôi mắt ấy chỉ có một cảm xúc—nỗi nhớ nhung kiềm chế đến r/un r/ẩy suốt bảy mươi mốt năm.
“Liễu Vân.” Anh cất tiếng, giọng nói vượt qua âm dương, rơi bên tai tôi, “Sống đến khi gặp lại ta. Em đến rồi.”
Tôi mở miệng, dùng hết sức lực cuối cùng, nói một câu trọn vẹn:
“Diêm Vương đại nhân... em chọn anh.”
Rồi tôi nhắm mắt lại.
Không đ/au đớn, không sợ hãi, không hối tiếc.