Hắn hạ tay xuống, tiếp tục bước đi. Gió thu thổi vạt áo hắn, kêu phần phật.
Hắn đi không nhanh cũng không chậm. Phía trước còn một quãng đường rất dài, tiệm rèn ở Giang Nam vẫn đang chờ hắn trở về để treo dải lụa đỏ mới. Hắn vừa đi vừa ngân nga điệu nhạc nhỏ-- điệu nhạc mà năm mười sáu tuổi nàng đã ngân nga cho hắn nghe bên bờ sông, đ/ứt quãng, lạc giọng ở mấy chỗ, nhưng hắn chẳng bận tâm.
Dù sao cũng chẳng có ai nghe. Ngoài gió.
Năm đó cuối thu, hắn đi ngang qua Biện Kinh. Đứng trên sườn núi cao nhất ngoài thành, nhìn từ xa thấy bóng dáng hoàng thành. Cung tường lớp lớp, ngói lưu ly phản chiếu ánh vàng dưới ráng chiều.
Hắn đứng rất lâu. Gió từ hướng cổng thành thổi tới, mang theo hương hoa quế.
Hắn nghĩ: Gặp mặt thì nói gì? Hỏi nàng sống có tốt không? Nếu nàng khóc thì phải làm sao? Nếu nàng bảo ta đưa nàng đi thì phải làm sao?
Mỗi một khả năng đều đã nghĩ qua, câu trả lời cho mỗi khả năng đều là "không thể". Thế nên hắn không gặp. Treo lụa đỏ là được rồi. Treo lụa đỏ, nàng biết hắn còn sống. Hắn nhìn nàng mỗi năm vẫn có thể ngước nhìn dải lụa-- nàng cũng còn sống.
Vậy là đủ rồi.
Hắn quay người đi về phía nam. Ánh hoàng hôn kéo dài cái bóng của hắn ra phía sau. Khi hắn xuống sườn núi, trên lưng không còn thanh ki/ếm nào nữa. Chỉ có con d/ao găm trong ngựk, áp sát lồng ngựk. Hắn đi rất lâu, không hề ngoái đầu.
Hắn không biết rằng-- vài năm sau, nàng sẽ một mình cưỡi ngựa ra khỏi thành, tìm đến ngôi miếu hoang ấy.
Phần 10 · Miếu hoang
Nhân Tông băng hà, ấu đế kế vị. Triệu thị với thân phận Thái hậu buông rèm nhiếp chính.
Đêm đó hắn ngồi một mình trong tiệm, lấy con d/ao găm ra.
Mười bốn năm rồi, chữ trên vỏ d/ao đã mòn đến mức gần như không nhìn rõ. "Lưỡi d/ao này không dính m/áu kẻ th/ù, chỉ bảo vệ người lương thiện"-- hắn dùng móng tay vẽ lại từng chữ một, vẽ xong áp sát vào ngựk, nói: "Nàng cũng vậy. Nàng chỉ bảo vệ người lương thiện."
Hắn đứng dậy bước ra ngoài, treo một dải lụa đỏ mới lên xà gỗ trước cửa tiệm. Dài ba trượng, đỏ rực chói mắt. "Dải thứ mười bốn." Hắn nói, "Nàng nhìn thấy rồi chứ."
Mùa thu năm Thái hậu nhiếp chính thứ hai.
Đêm đó, sau khi phê xong đạo tấu chương cuối cùng, nàng đứng dậy đi tới bên cửa sổ. Hoa quế trong hoàng thành đã nở, hương thơm tràn vào từ trong sân, xông đến mức hốc mắt người ta cay xè. Nàng đứng bên cửa sổ, chợt nhớ tới-- năm mười sáu tuổi, trước cửa ngôi miếu hoang lần đầu tiên gặp hắn, hình như cũng có một cây hoa quế. Đã lâu rồi nàng chưa từng đến ngôi miếu hoang đó. Mười bốn năm rồi, năm nào nàng cũng chỉ ngước nhìn bầu trời phía nam vào cuối thu. Mỗi độ cuối thu, góc đông nam tường thành hoàng cung luôn xuất hiện một dải lụa đỏ dài ba trượng, tra không ra là ai treo, cũng chẳng ai biết treo lên bằng cách nào. Có người nói đó là thần tích.
Nàng không nói gì. Nàng biết là ai treo.
Nàng đứng bên cửa sổ, hương hoa quế từng đợt từng đợt tràn vào. Nàng chợt nghĩ-- đã đến lúc phải đi xem cây hoa quế đó rồi.
Nàng thay y phục màu sẫm, không mang theo thị vệ, một mình cưỡi ngựa rời khỏi cổng cung. Chạy hơn một canh giờ, trời sắp sáng. Ngôi miếu hoang bên cạnh quan lộ vẫn y nguyên như cũ-- cửa sơn môn đổ mất một nửa, tường viện sập một đoạn, nhưng cây hoa quế trước cửa miếu vẫn còn đó, năm nay nở vàng rực cả cây.
Nàng ghì cương ngựa, nhảy xuống. Trên xà gỗ trước cửa miếu treo một dải lụa đỏ, loại mới, dài ba trượng, bay phấp phới trong gió sớm. Nàng ngước đầu nhìn một lúc, rồi bước vào trong.
Trong miếu vẫn cũ nát như xưa. Lớp sơn vàng trên tượng Phật đã bong tróc quá nửa, bàn thờ nghiêng lệch sang một bên, trên mặt đất trải đầy cỏ khô và lá rụng. Nhưng nàng nhìn cái là thấy ngay hai hàng chữ trên tường, vẫn còn đó.
"Nếu thiên hạ không còn chuyện bất bình, thì ta không có ki/ếm để rút."
Hàng dưới: "Nếu thiên hạ không còn chuyện bất bình, thì ta không có cung để giương. Nhưng ta ở trong cung, vẫn còn một cây cung."
Nàng đưa tay chạm nhẹ. Mười bốn năm rồi, nét chữ bị gió mưa bào mòn nhạt đi, nhưng nàng nhận ra từng nét một. Đó là những chữ nàng khắc vào năm mười sáu tuổi. Nàng đang mải mê chạm vào dòng chữ đó thì phía sau chợt có tiếng bước chân.
Nàng không quay đầu.
"Khởi thủ thức vẫn còn chậm quá nhỉ?" Nàng hỏi.
Người phía sau khựng lại. Im lặng một hồi, hắn lên tiếng, giọng trầm hơn mười bốn năm trước, nhưng cái âm đuôi vẫn là dáng vẻ nàng hằng nhớ.
"Nàng đến rồi."
Nàng xoay người.
Hắn đứng ở cửa miếu. Ánh nắng sớm chiếu vào từ phía sau lưng hắn, mạ lên đường nét hắn một lớp viền vàng. Hắn mặc bộ y phục cũ đã giặt đến bạc màu, trên lưng không đeo ki/ếm. Tóc búi gọn gàng, bên mai đã lấm tấm vài sợi bạc. Nhưng đôi mắt hắn vẫn sáng, giống hệt như lúc hắn lộn người từ mái miếu xuống mười bốn năm trước.
Nàng nhìn hắn, chợt mỉm cười: "Năm nào dải lụa đỏ cũng là ngươi treo sao?"
"Ừ."
"Mười bốn năm?"
"Mười bốn năm."
Nàng đứng cạnh bàn thờ, hắn đứng ở cửa, ở giữa cách nhau khoảng cách nửa ngôi miếu. Nàng không bước tới, hắn cũng không tiến lại gần. Hai người cứ đứng như thế, ngăn cách bởi mười bốn năm quang âm.
Nàng lên tiếng trước: "Ki/ếm của ngươi đâu?"
"Không mang nữa."
"Tại sao không mang?"
"Năm đó ta đến Lạc Dương, tìm thấy kẻ đã gi*t cha mẹ ta." Hắn nói, "Ta ngồi xổm trên Trống Lâu, nhìn chiếc kiệu của hắn đi qua dưới chân. Vốn định nhảy xuống."
Nàng nhìn hắn.
"Nhưng ta nhớ tới lời nàng nói năm mười sáu tuổi."
"Lời gì?"