Hắn mỉm cười, xoay người rời đi.
Bước ra quan lộ, hắn ngoái đầu nhìn lại. Dải lụa đỏ trên xà cửa miếu hoang bay rất cao, trong ánh bình minh tựa như một ngọn lửa. Hắn giơ tay vẫy vẫy về phía đó, như đang từ biệt một người nào đó.
Sau đó hắn xoay người, đi về phía nam. Giang Nam, trên xà gỗ trước cửa tiệm rèn ấy, vẫn còn một dải lụa đỏ chờ được treo lên. Hắn bước đi không nhanh không chậm, thanh ki/ếm sau lưng đã mất từ hơn nửa năm trước, thay vào đó là một bầu rư/ợu, khẽ đung đưa theo nhịp bước. Gió sớm thổi ngược chiều, mấy sợi tóc bạc bên mai bị thổi rối, hắn tiện tay vén lại.
Hắn vừa đi vừa ngân nga điệu nhạc ấy. Điệu nhạc nàng ngân nga cho hắn nghe bên bờ sông năm mười sáu tuổi, lời ca không còn nhớ rõ, nhưng giai điệu thì chưa bao giờ quên. Hắn ngân nga điệu nhạc ấy, dọc theo quan lộ càng lúc càng xa. Ánh bình minh kéo dài bóng hắn, tạo thành một vạch kẻ mảnh trên con đường đất.
Dải lụa trước cửa miếu vẫn bay, hoa quế vẫn rơi. Mùa thu vẫn còn rất dài.
Phần 11 · Năm năm ngày này
Nhiều năm sau, tại một thị trấn nhỏ ở Giang Nam.
Trong trấn có một tiệm rèn, trên xà gỗ trước cửa tiệm treo một dải lụa đỏ đã bạc màu. Trong tiệm ngồi một người đàn ông, tóc đã bạc quá nửa, lưng hơi khòm, hai tay đặt trên đầu gối, các đ/ốt ngón tay thô to biến dạng, lòng bàn tay đầy vết chai sần.
Trông ông lão hơn tuổi thật mười mấy tuổi. Hơn hai mươi năm phong sương giang hồ, nỗi vất vả của nghề rèn, những đêm một mình uống rư/ợu ngắm trăng-- những thứ đó đều đã khắc lên người ông. Người trong trấn không biết ông bao nhiêu tuổi, chỉ nhớ lúc ông chuyển đến đã là dáng vẻ này, mười mấy năm rồi cũng chẳng thay đổi là bao.
Ngày nào ông cũng ngồi trước cửa uống rư/ợu, có người đến sửa nông cụ thì sửa, không có thì ngồi cả ngày. Thỉnh thoảng có người trẻ tuổi đi ngang qua nhìn dải lụa treo trước cửa, hỏi ông treo bao nhiêu năm rồi, ông ngẫm nghĩ, rồi báo một con số.
"Hai mươi ba năm rồi."
"Hai mươi lăm năm rồi."
"Hai mươi bảy năm rồi."
Năm thu ấy, một thiếu niên du hiệp đi ngang qua tiệm, nhìn dải lụa trước cửa, dừng lại hỏi: "Sư phụ, ngài treo thứ này làm gì vậy?"
Ông đặt bát rư/ợu xuống, ngước nhìn dải lụa. Gió thu thổi qua, dải lụa khẽ bay, mép vải đã xơ x/ác, màu sắc phai thành hồng nhạt, nhưng vẫn đang bay.
Ông ngẫm nghĩ một hồi rồi nói: "Đợi người."
Thiếu niên du hiệp hỏi: "Đợi được chưa?"
Ông không trả lời. Bưng bát rư/ợu lên uống một ngụm, rồi chỉ về phía bầu trời xa xăm. Người trẻ tuổi nhìn theo tay ông-- trời rất cao, rất xanh, một đàn nhạn bay về phía nam. Chẳng nhìn thấy gì cả.
Nhưng khóe miệng ông dần cong lên. Rất nhạt, nhưng nếp nhăn nơi đuôi mắt lại hằn sâu vô cùng.
"Đợi được rồi." Ông nói, "Năm nào cũng đợi được."
Người trẻ tuổi không hiểu, nhưng cũng không hỏi thêm. Chắp tay hành lễ, nói: "Sư phụ, đi đường khát quá, xin ngài bát nước uống." Ông đứng dậy, vào nhà bưng ra một bát trà mát. Động tác chậm đi một chút-- đầu gối chân phải không còn linh hoạt, đó là vết thương cũ từ hai mươi năm trước khi đuổi theo một tên tr/ộm, ngã từ trên mái nhà xuống.
Người trẻ tuổi đón lấy uống cạn một hơi, tạ ơn rồi tiếp tục lên đường. Đi được vài bước, thiếu niên du hiệp chợt ngoái đầu: "Sư phụ, ngài trước kia-- từng dùng ki/ếm sao?"
Ông liếc nhìn góc tường dựa cạnh tường. Nơi đó chỉ có một cây búa rèn sắt, dựa vào chân tường, cán búa được mài bóng loáng.
"Thời trẻ từng dùng thứ khác." Ông nói.
"Sau đó thì sao?"
"Sau đó--" Ông ngồi xuống lần nữa, bưng bát rư/ợu lên, nhìn về phía xa, "Sau đó không dùng nữa. Có người bảo ta 'việc cần quyết thì phải quyết'."
Thiếu niên du hiệp gật đầu rồi rời đi.
Ông ngồi trước cửa tiếp tục uống rư/ợu. Uống xong, đứng dậy đi dưới xà cửa. Đầu gối chân phải kêu răng rắc một tiếng, ông khựng lại, đợi cơn ê ẩm qua đi mới vươn tay với lấy dải lụa cũ. Vải lụa đã giòn rụm, vừa chạm vào đã rơi vụn. Ông gỡ xuống, vào nhà lấy một dải mới-- dài ba trượng, vải lụa đỏ rực, mép vải được c/ắt thẳng tắp. Năm nào ông cũng chuẩn bị sẵn mấy dải, vì không biết mình còn treo được bao nhiêu năm nữa.
Đứng trên ghế đẩu treo dải lụa mới lên, lùi lại hai bước nhìn ngắm. Gió thổi qua, dải lụa bay lên, rực rỡ đến chói mắt dưới ánh mặt trời mùa thu. Ông đứng đó nhìn rất lâu. Gió thổi rối mái tóc bạc phơ, ông giơ tay vén lại, đầu ngón tay chạm vào nếp nhăn nơi góc trán-- sâu hơn rồi, sâu hơn năm ngoái một chút.
Đi vào tiệm ngồi xuống, trà đã nguội. Ông châm thêm bình nước nóng, pha lại lần nữa. Nước trà rất nhạt, hơi nóng bốc lên nghi ngút, tan ra trong ánh nắng mùa thu. Ông bưng bát trà, nâng lên từ xa, như đang cụng ly với một người nào đó.
"Năm sau lại treo." Ông nói, giọng rất khẽ.
Rồi uống một ngụm, đặt bát xuống. Dựa vào lưng ghế, nhắm mắt lại. Gió thu lùa vào từ cửa, tiếng dải lụa bay phấp phới nghe vụn vặt, tựa như có người đang cười ở một nơi rất xa. Ông lắng nghe âm thanh đó, khóe miệng lại cong lên.
Sau này người trong trấn kể lại, người đàn ông ở tiệm rèn đó cả đời không cưới vợ, không con không cái, chỉ giữ khư khư một dải lụa, năm nào cũng thay dải mới, cũng chẳng biết là đang đợi ai.