Bà ta liền nói tôi không biết điều, còn bồi thêm một câu: “Đi quỳ ở từ đường mà suy ngẫm lại đi.”
Tôi quỳ đến tận đêm khuya, đầu gối sưng vù không thể gập lại được.
Từ đó về sau tôi trở nên ngoan ngoãn, không bao giờ dám nói lời thừa thãi.
Mẹ có yêu cầu gì, tôi đều đáp “được”.
Không được tranh giành với chị.
“Được.”
Ký tên chị vào tranh của mình.
“Được.”
Mẹ thực sự hài lòng về tôi.
Giống như lúc này, mẹ vừa vỗ về vừa bóc một quả vải bỏ vào miệng chị cả.
Khi bắt gặp ánh mắt tôi, bà cũng hỏi một câu.
“Tố Tâm không thích ăn đồ ngọt, đúng không?”
Tôi gật đầu: “Đúng.”
Mẹ mỉm cười nhẹ: “Tố Tâm, Cố nhị lang là người thật thà, nếu như con gả qua đó...”
3.
Tôi nén lại nỗi chua xót trong lòng.
Tôi ngước mắt nhìn ra.
Cố Trường Hi đang ngồi ở tiền sảnh.
Chàng đang thưởng thức bức “Hoa điểu đồ” mà chị cả vừa đưa cho chàng xem.
Cách chàng ngắm tranh không giống người khác.
Rất nghiêm túc.
Ngón tay chàng nhẹ nhàng lướt dọc theo đường gân lá lan, dừng lại ở hai nét thu phong, đó chính là nét vẽ của tôi.
Tôi có thói quen thu phong hồi lại một chút, giống như chiếc lá bị gió thổi lật lên.
Thói quen này ngoài tôi ra, không ai biết cả.
Nhưng tay chàng dừng ở đó, rất lâu.
Sau đó chàng ngẩng đầu, không nhìn chị cả mà tiếp tục nhìn bức tranh.
“Nét vẽ lá lan ở đây...”
“Là Tố Tâm vẽ đấy.” Mẹ đáp lời.
Tôi và chị cả đều ngạc nhiên.
Ngược lại, ánh mắt Cố Trường Hi rời khỏi bức tranh, rơi vào gương mặt tôi.
Ánh mắt có chút kinh ngạc.
“Tay cô rất nhẹ.”
“Lúc thu phong có một nỗi buồn đầy kiềm chế.”
Mười sáu năm qua, chưa từng có ai đứng trước tranh của tôi mà nói rằng: “Cô đang buồn.”
Lồng ngựk tôi như bị thứ gì đó khẽ va chạm vào.
Trước đây, các thầy đến phủ dạy học chỉ cần đến một lần là hiểu rõ ý tứ.
Họa sư nói hoa mẫu đơn của chị cả “có khí chất phú quý”.
Nữ tiên sinh nói tranh sơn thủy của chị cả “thoáng đạt có ý tứ”.
Chẳng ai nhìn vào nét bút của tôi.
Khi tiếng nói của Cố Trường Hi vừa dứt, biểu cảm của mẹ như thể vừa trút được gánh nặng.
“Để ta nói chuyện với Nhị lang.”
Kết quả của cuộc nói chuyện chính là chị cả đã từ chối chàng.
Chàng đứng giữa sảnh, trong tay vẫn ôm bức Hoa điểu đồ, trông chẳng có vẻ gì là đ/au khổ lắm.
Nhưng mẹ thì như vừa vứt bỏ được một món n/ợ lớn.
Ánh mắt tha thiết nhìn tôi.
Như vậy cũng tốt, tôi thầm nghĩ.
Tôi nhìn Cố Trường Hi, Cố Trường Hi nhìn tôi.
Hai đôi mắt của những kẻ không được lựa chọn.
Hai con người không ai đoái hoài.
“Nếu Nhị cô nương không chê...”
“Được.”
4.
Cứ thế, tôi gả cho Cố Trường Hi.
Chẳng có gì là tốt hay không tốt.
Tôi chỉ là không muốn ở lại cái nhà đó nữa.
Số phận người phụ nữ thật gian nan, muốn ra khỏi thành mà ngay cả giấy thông hành cũng cần sự đồng ý của cha anh hoặc chồng.
Tôi thực sự chẳng biết đi đâu.
Ít nhất, sau khi cưới Cố Trường Hi đối xử với tôi không tệ.
Chàng cũng thích vẽ, chia một nửa phòng tranh cho tôi.
Phòng tranh không lớn, có hai cửa sổ.
Chàng nhường bức tường có ánh sáng tốt nhất cho tôi, còn mình thì chuyển sang phía gần cửa.
Chàng vẽ hải đường, tôi vẽ sơn thủy.
Vẽ xong thì xem tranh của nhau.
Khi chàng xem tranh rất yên tĩnh, không thích nói chuyện.
Nhưng chàng sẽ treo đầu ngón tay lên một nét vẽ nào đó, dừng lại một lúc rồi “ừm” một tiếng.
“Ừm” ngắn là “chỗ này có thể suy nghĩ thêm”.
“Ừm” dài là “tốt”.
Có một lần tôi vẽ đến tận đêm khuya.
Chàng bưng một tách trà nóng vào, đứng sau lưng tôi xem một lúc.
Sau đó ngón tay chàng treo phía trên bức tranh, ở chỗ để trống.
“Tại sao chỗ này không vẽ?”
“Đó là lưu bạch (khoảng trắng).”
“Để trống nhiều quá rồi.”
“Núi quá nặng, nước quá chật, không để trống thêm một chút thì người ta sẽ không thở nổi.”
Chàng không đáp.
Một lúc sau, chàng đặt tách trà xuống bên tay tôi.
“Nàng đấy, lúc nào cũng suy tư nặng nề. Nàng đã gả cho ta, sau này tự có ta che mưa chắn gió cho nàng, hãy nhìn về phía trước đi, Tố Tâm.”
“Ngày mai, ta sẽ vẽ một bức chân dung cho nàng.”
Chàng rất ít khi thẳng thắn như vậy.
Tôi nói “được”.
Đêm đó khi tôi thu bức sơn thủy lại, bàn tay vẫn còn ấm áp.
Ngày hôm sau, chàng dậy từ sớm, dựng giá vẽ, trải lụa.
Sau đó chị cả sai người gửi đến một lá thư.
Chị nói chị sắp lấy chồng, là đích tử nhà Diêm vận sứ.
Trong của hồi môn của chị thiếu một bức bình phong hải đường vẽ bằng lối công bút.
Họa sư không kịp vẽ, nên hỏi Cố Trường Hi xem có thể vẽ giúp một bức không.
Chàng nhìn lá thư rất lâu.
Sau đó thu dọn giá vẽ.
“Để hôm khác vậy, việc của chị nàng đang gấp.”
Tôi sững sờ tại chỗ rất lâu, cuối cùng chỉ còn một nụ cười khổ cực nhẹ.
Ngày khác, chàng cũng quên mất rồi.
Giống như vị họa sư năm ấy nói hôm khác sẽ vẽ cho tôi, nhưng rồi cũng chẳng bao giờ tới.
5.
Bức bình phong hải đường mà chị cả nhờ chàng vẽ, chàng vẽ suốt mười ngày ròng.
Bốn tấm bình phong, mỗi tấm hoa hải đường đều khác nhau: nụ còn e ấp, nửa nở, nở rộ, và cánh hoa đã rụng.
Tôi đứng trước cửa phòng tranh nhìn chàng vẽ.
Lưng chàng gập xuống, cổ tay vận lực, chẳng khác nào những họa sư đang dốc lòng vẽ một món đồ tâm đắc nhất.
Chỉ là, người chàng vẽ không phải là tôi.
Mà là món quà mừng chàng chuẩn bị cho chị cả.
Buổi tối, chàng mệt đến mức ngủ thiếp đi ngay trên bàn vẽ.
Sau vài ngày, hôn lễ của chị cả hoàn tất.
Cố Trường Hi bắt đầu nhận thêm nhiều tranh hơn: bình phong, mặt quạt, tập tranh.
Chàng vẽ rất tận lực, vẽ xong là b/án ngay.
Hoa hải đường trong phòng tranh ngày càng ít đi.
Cuối cùng chỉ còn sót lại một bức, treo trong góc.
Tôi hỏi chàng tại sao không giữ lại vài bức.
“Hoa hải đường không đáng tiền, không ai m/ua.”
Chàng nói rất bình thản.
Tôi muộn màng nhận ra.