“Đúng vậy, bà Lâm mắc cao huyết áp mãn tính, cô Trình luôn là người đặt th/uốc ngoại cho bà ấy, không chỉ th/uốc, mà cả lịch khám sức khỏe định kỳ hàng tháng của bà Lâm cũng do cô Trình sắp xếp.”
Người chăm sóc có chút lo lắng.
“Ông Giang, ông có thể gửi đến sớm nhất có thể không?”
Giang Dữ cúp điện thoại, đầu óc ong ong lên.
Anh ta luôn cho rằng, việc chăm sóc nhà họ Lâm đều là do anh ta tự tay làm.
Anh ta tưởng rằng tôi chỉ đứng ngoài lạnh lùng quan sát, thậm chí sinh lòng đố kỵ.
Anh ta chưa bao giờ nghĩ rằng, đằng sau những “giới hạn” và “trách nhiệm” mà anh ta tự hào, tất cả đều là do tôi âm thầm gánh vác.
Anh ta không biết mẹ Lâm uống th/uốc gì, không biết đi b/ệnh viện nào tái khám, thậm chí cả loại nến thơm đặc chế dùng trong pháp hội ngày giỗ, cũng là tôi chạy khắp nửa thành phố mới đặt được.
Anh ta đã quen với việc ném chỉ thị cho tôi, rồi thản nhiên tận hưởng vầng hào quang của một “người tốt”.
Bây giờ, người thực thi chỉ thị ấy đã biến mất.
Thế giới của anh ta bắt đầu sụp đổ.
Giang Dữ lập tức gọi cho trợ lý của mình.
“Điều tra rõ Trình Thính Vãn đã đi đâu! Liên lạc với bạn bè của cô ấy, kiểm tra hồ sơ chuyến bay của cô ấy!”
Nửa tiếng sau, giọng trợ lý run lên trong điện thoại.
“Ông Giang......”
“Cô Trình đã từ chức tất cả các chức vụ trong nước, hủy tài khoản mạng xã hội.”
“Cô ấy đã hiến tặng phần còn lại của căn nhà cổ ở phía nam thành phố cho Hiệp hội bảo tồn di tích, rồi......”
“Rồi sao nữa?” Giang Dữ quát lớn.
“Cô ấy đã đến Paris, không có bất kỳ hồ sơ quay về nào. Hơn nữa, trước khi đi, cô ấy đã thoát khỏi tất cả các nhóm chung.”
Trợ lý ngập ngừng, bồi thêm nhát d/ao cuối cùng.
“Cô ấy thậm chí đã đơn phương hủy bỏ danh phận vị hôn thê của ông trong hệ thống nội bộ công ty.”
Giang Dữ ch*t lặng tại chỗ.
Điện thoại trượt khỏi tay, đ/ập xuống sàn nhà lạnh lẽo.
Lúc này anh ta mới nhận ra, tôi không phải đang gi/ận dỗi.
Tôi là thực sự, không cần anh ta nữa.
Một tháng tiếp theo, Giang Dữ tìm tôi như kẻ đi/ên.
Anh ta huy động tất cả các mối qu/an h/ệ, cố gắng tìm tung tích của tôi trong giới nghệ thuật khổng lồ ở Paris.
Nhưng anh ta thậm chí không biết tôi nhập cư với tư cách gì.
Anh ta chỉ có thể bị giam cầm trong căn nhà trống rỗng đó, mỗi ngày đối mặt với những dấu vết tôi để lại.
Trợ lý nói, Giang Dữ bắt đầu mất ngủ suốt đêm này qua đêm khác.
Một đêm nọ, anh ta say bí tỉ, lục lọi lung tung trong phòng làm việc, cố gắng tìm ra manh mối tôi có thể để lại.
Anh ta vô tình làm rơi một chiếc hộp sắt ở tầng cao nhất của giá sách.
Đó là hộp di vật của Lâm Sở, thứ mà anh ta luôn coi như báu vật.
Chiếc hộp rơi xuống đất, đồ đạc bên trong rơi vãi ra ngoài.
Ngoài những tấm ảnh chụp chung, còn có một cuốn nhật ký của Lâm Sở lúc sinh thời.
Trước đây Giang Dữ chưa bao giờ dám đọc, sợ chạm cảnh sinh tình.
Nhưng ngày hôm đó, dưới tác dụng của rư/ợu, anh ta lật mở trang cuối cùng.
Đó là những dòng Lâm Sở viết một tuần trước khi gặp t/ai n/ạn.
“Giang Dữ là một người rất tốt, nhưng anh ấy quá cố chấp vào những lời hứa.”
“Nếu một ngày nào đó em không còn nữa, anh ấy nhất định sẽ ôm hết mọi trách nhiệm về phía mình.”
“Em không muốn anh ấy như vậy. Em hy vọng anh ấy có thể yêu thương người vợ tương lai thật tốt, đừng vì sự áy náy với em mà trói buộc cuộc đời mình.”
“Người đang sống, mãi mãi cần được đồng hành hơn người đã khuất.”
Các mép của cuốn nhật ký đã bị nước làm ố vàng.
Giang Dữ chằm chằm nhìn vào những dòng chữ đó, mắt đỏ ngầu như muốn rỉ m/áu.
Anh ta luôn cho rằng, vô điều kiện đáp ứng nhà họ Lâm, mãi mãi đặt Lâm Sở ở vị trí đầu tiên, là đang chuộc tội, là đang thực hiện lời hứa.
Hóa ra chính Lâm Sở chưa bao giờ yêu cầu anh ta làm như vậy.
Thứ giam cầm anh ta, không phải di nguyện của người đã khuất, mà chính là sự chấp niệm méo mó của bản thân anh ta.
Anh ta dùng sự chấp niệm này, ép ch*t một người đang sống yêu thương anh ta.
Giang Dữ ngã ngồi xuống đất, đột nhiên như kẻ đi/ên mở ngăn kéo tôi từng dùng.
Ở tầng dưới cùng, anh ta tìm thấy một cuốn lịch cũ.
Đó là cuốn lịch tôi tự tay vẽ khi chúng tôi mới đính hôn ba năm trước.
Trên lịch, tháng Sáu năm đầu tiên, tôi dùng bút đỏ vẽ một vòng tròn thật lớn, viết “Đám cưới của chúng ta”.
Sau đó, bên trên bị gạch một dấu X đen thô kệch, bên cạnh viết: “Anh ấy phải đi cùng dì Lâm, đợi.”
Tháng Mười năm thứ hai, cũng vẽ vòng tròn, cũng bị gạch X.
Viết: “Dì Lâm ốm, đợi.”
Ngày tháng năm thứ ba, không có vòng tròn, chỉ có một khoảng trắng sạch sẽ.
Ở cuối cuốn lịch, kẹp vài tờ giấy ghi chú bị vò nát rồi vuốt phẳng.
Đó là những bản thảo ghi nhớ tôi viết rồi xóa, xóa rồi viết trong suốt ba năm qua.
“Hôm nay là lần thứ ba anh ấy hủy thử váy cưới, vì bia m/ộ của Sở Sở cần khắc lại chữ. Mình vốn định gi/ận dỗi, nhưng anh ấy trông rất mệt mỏi, thôi vậy, đợi thêm một chút nữa.”
“Nhà cổ bị dột, mình muốn tìm anh ấy giúp đỡ, nhưng anh ấy đi đón dì Lâm xuất viện rồi. Mình tự học cách sửa vậy, anh ấy cũng không dễ dàng gì.”
“Anh ấy từng nói qua đợt này là ổn thôi.”