Đứng trước cửa tòa nhà, tôi ngước đầu nhìn lên phía tầng ba mươi tám. Văn phòng đó đèn vẫn tắt, toàn bộ bức tường kính phản chiếu ánh đèn từ tòa cao ốc đối diện, tựa như vô số con mắt đang dõi theo tôi trong bóng tối.
Không biết giờ này Triệu Nhã Văn đang ở đâu, không biết liệu cô ta có còn đang qua một màn hình nào đó mà tôi không thấy để nhìn tr/ộm cuộc sống mà cô ta đã theo dõi suốt ba năm qua hay không. Nhưng tôi biết, lần này, tôi sẽ không chờ đợi nữa.
Suốt ba năm, cô ta dùng con mắt giấu sau bức tranh để xem hết tất cả bí mật của tôi.
Bây giờ, đã đến lượt tôi lật tẩy bí mật của cô ta.
VI. Ba năm dõi theo
Triệu Nhã Văn hẹn gặp tại nhà hàng Pháp mà cô ta thường lui tới.
Nằm trên tầng cao nhất của trung tâm tài chính, nhà hàng Michelin với những chiếc đèn chùm pha lê buông xuống, c/ắt x/ẻ toàn bộ đại sảnh thành vô số hình học đan xen ánh sáng. Người phục vụ mặc áo vest đen chỉnh tề, bước chân nhẹ như mèo. Không khí tràn ngập mùi hương của nấm truffle và gan ngỗng áp chảo bơ, vừa ngọt ngào vừa tiết chế.
Khi tôi đến, Triệu Nhã Văn đã ở đó.
Cô ta mặc một chiếc váy liền thân bằng lụa màu xanh đậm, tóc búi thấp, lộ ra chiếc cổ thanh tú và đôi khuyên tai ngọc bích. Đôi khuyên tai đó tôi biết, là món tôi đã đấu giá tại Sotheby's vào dịp kỷ niệm ba năm ngày cưới, ngọc bích Lão Khanh thời Thanh, tiêu tốn hơn hai triệu đô la Hồng Kông.
Khi ly hôn, cô ta đã mang đi hầu hết trang sức, bao gồm cả đôi khuyên tai này.
Thấy tôi bước vào, cô ta khẽ nhướng cằm, khóe miệng nở một nụ cười vừa vặn. Nụ cười đó tôi quá quen, là biểu cảm thương hiệu của cô ta – lịch sự, xa cách, mang theo một chút cảm giác ưu việt mơ hồ, giống như sự điềm tĩnh của một tay cờ cao minh khi đối diện với đối thủ sắp bại trận.
"Đến rồi à?" Cô ta nói, giọng không lớn không nhỏ, vừa đủ để tôi nghe thấy.
Tôi ngồi xuống đối diện cô ta. Trên bàn đã bày sẵn hai ly rư/ợu khai vị, một ly vang trắng của cô ta, một ly whisky của tôi.
Cô ta vẫn nhớ tôi thích uống gì.
Chi tiết này khiến lòng tôi hơi thắt lại, nhưng tôi không để bất kỳ biểu cảm nào lộ ra mặt.
Người phục vụ mang thực đơn đến, tôi lật xem hai trang rồi đóng lại, gọi một phần bít tết.
"Không gọi món khai vị sao?" Triệu Nhã Văn hỏi.
"Không cần đâu, tôi không định ở đây quá lâu."
Lông mi cô ta khẽ rung, nhưng nhanh chóng khôi phục vẻ bình thản. Cô ta đóng thực đơn đưa cho phục vụ, tao nhã nói "lấy giống anh ấy", rồi bưng ly rư/ợu lên nhấp một ngụm nhỏ.
"Nói đi," cô ta đặt ly rư/ợu xuống bàn, những ngón tay thon dài nhẹ nhàng xoay trên thành ly, "chuyện gì khiến anh vội vàng gặp tôi như vậy?"
Tôi không vòng vo.
"Trong văn phòng tôi có một cái camera, lắp được ba năm hai tháng. Là cô lắp."
Nhạc nền của nhà hàng là bản Nocturne của Chopin, tiếng đàn piano như dòng nước chảy ra từ loa trên trần nhà. Những ngón tay của Triệu Nhã Văn dừng lại, ly rư/ợu đứng yên giữa những ngón tay cô ta, những gợn sóng lăn tăn trên bề mặt rư/ợu từ từ lan rộng rồi tan biến.
Biểu cảm của cô ta không thay đổi. Không kinh ngạc, không hoảng hốt, thậm chí không phủ nhận.
Cô ta lặng lẽ nhìn tôi, như đang xem xét một lời nói dối mà cô ta đã sớm dự liệu được sẽ bị vạch trần.
"Anh phát hiện ra từ khi nào?" Cô ta hỏi.
"Hôm qua."
"Vương Quế Hoa nói với anh?"
"Phải."
Triệu Nhã Văn khẽ gật đầu, biểu cảm trên mặt trở nên phức tạp. Cô ta cúi đầu nhìn ly rư/ợu của mình, im lặng rất lâu. Bản Nocturne của Chopin bước vào đoạn dịu dàng, tiếng đàn piano trầm xuống, như một người đang khẽ thở dài.
"Cuối cùng cô ta cũng nói ra," giọng Triệu Nhã Văn rất khẽ, "Tôi từng dặn cô ta, đừng nói cho anh biết."
"Cô đưa cho con trai cô ta hai mươi ngàn tệ mỗi tháng, để cô ta canh chừng camera cho cô."
"Hai mươi ngàn tệ?" Triệu Nhã Văn ngẩng đầu, khóe miệng nở một nụ cười khổ, "Anh nghĩ tôi sẽ làm chuyện này vì hai mươi ngàn tệ sao?"
Tôi không nói gì.
Cô ta bưng ly rư/ợu lên, uống cạn số vang trắng còn lại, ra hiệu cho người phục vụ rót thêm ly nữa. Ly thứ hai đầy ắp, cô ta không vội uống, dùng đầu ngón tay khẽ gõ lên thành ly, phát ra những tiếng kêu vụn vỡ.
"Bức tranh đó là tôi m/ua," cô ta nói, "camera cũng là tôi lắp. Nhưng không phải để đá/nh cắp bí mật thương mại của anh, ít nhất không hoàn toàn vì điều đó."
"Vậy là vì cái gì?"
"Để làm rõ một việc." Cô ta nhìn tôi, ánh mắt đột nhiên sắc bén, "Tôi muốn biết, một người đàn ông có thể m/áu lạnh đến mức độ nào."
Tôi không đáp lời.
"Chúng ta kết hôn năm năm, số câu nói thật anh dành cho tôi cộng lại không quá mười câu." Giọng cô ta bắt đầu căng thẳng, nhưng vẫn duy trì tông điệu tao nhã, như thể đang đọc một bản tuyên bố đã chuẩn bị sẵn, "Mọi thứ của anh đều nằm trong văn phòng đó – cảm xúc của anh, suy nghĩ của anh, những thứ anh thực sự quan tâm, bộ dạng của anh khi ở một mình. Trước mặt tôi, anh luôn là người đeo mặt nạ, tôi chỉ muốn biết, sau khi tháo mặt nạ xuống, anh rốt cuộc là ai."
"Cho nên cô lắp camera, nhìn tr/ộm tôi như một kẻ bi/ến th/ái suốt ba năm."
"Anh nhìn tr/ộm cuộc sống của tôi suốt ba năm."
"Cuộc sống của tôi?" Giọng Triệu Nhã Văn cuối cùng cũng có chút d/ao động, như hòn đ/á ném vào mặt hồ tĩnh lặng, "Anh biết ba năm qua tôi sống thế nào không? Mỗi tối tôi nằm trên chiếc giường trống trải, mở điện thoại, nhìn anh cử động trong văn phòng. Anh tăng ca ở đó đến hai giờ sáng, anh cau mày trước màn hình máy tính, anh ngồi một mình trên sofa ngẩn người, anh đấu trí với khách hàng qua điện thoại –"
Cô ta ngập ngừng, hít sâu một hơi.