"Về chuyện của Hứa Tam Cân," trưởng thôn già nói tiếp, "bố con trước đây không biết sao?"
"Không biết ạ." Tôi nói, "Ông ấy vẫn luôn đinh ninh Hứa Lương Thần là con đẻ của mình."
Trưởng thôn già lắc đầu, tặc lưỡi hai tiếng: "Năm đó ta đã bảo với ông ấy rồi, nhưng ông ấy không nghe. Cái người đàn bà Hạ Du đó, nhìn là biết không phải loại vừa. Ông ấy bị m/a làm lú lẫn rồi."
Thím Vương cũng ở đó.
Bà bưng một bát mì chay đi tới đưa cho tôi: "Ăn chút đi, cả buổi sáng chưa ăn gì rồi."
Tôi nhận lấy ăn vài miếng. Mì đã nguội ngắt.
"Hứa Thành Nặc -- không đúng," thím Vương sửa lời, "giờ phải gọi là Vương Thành Nặc rồi. Sau này con tính thế nào?"
"Việc trong làng vẫn phải lo." Tôi nói, "Mảng homestay không thể thiếu người được."
Thím Vương gật đầu, lại nhìn vào trong linh đường.
Di ảnh của Hứa Thịnh Hoa đặt trên bàn thờ, là bức ảnh chụp khi ông ấy còn trẻ, gương mặt chưa bị tàn phá, khóe miệng còn phảng phất nụ cười. Đó là lúc ông ấy mới quen Hạ Du, cả người đầy vẻ hăng hái.
"Đáng tiếc thật." Thím Vương nói, "Nếu như năm đó ông ấy không gặp phải người đàn bà đó..."
Người trong làng lần lượt ra về.
Người cuối cùng rời đi là mẹ tôi.
Bà đứng ở cửa linh đường nhìn vào trong một lúc, không nói lời nào.
Tôi thấy hốc mắt bà hơi đỏ, nhưng bà đã nén lại.
"Mẹ." Tôi gọi bà.
Bà quay đầu nhìn tôi một cái: "Đi thôi, về nhà ăn cơm."
Tôi theo sau lưng bà bước ra khỏi linh đường.
Ánh nắng chiếu trên con đường làng, ấm áp vô cùng.
Lá cây hoa mộc tê xào xạc trong gió, không khí thoang thoảng mùi thơm của cơm trưa.
"Mẹ," tôi đuổi kịp bước chân bà, "mẹ có h/ận ông ấy không?"
"Đã từng h/ận." Bà nói, "Sau này thì không còn h/ận nữa."
"Tại sao ạ?"
"Vì không đáng." Bà đẩy cánh cổng sắt của căn biệt thự, cây hoa mộc tê trong sân đang nở rộ, những bông hoa nhỏ màu vàng kim rụng đầy dưới đất, "Lúc ông ấy còn sống không đáng để mẹ h/ận, ch*t rồi lại càng không đáng."
Tuần thất của Hứa Thịnh Hoa vừa qua, chuyện của ông ấy đã lan khắp làng.
Người truyền tin nhanh nhất là thím Vương -- cái miệng của bà ấy chưa bao giờ giữ được chuyện, tối hôm trước biết, hôm sau cả làng đều hay.
Lời đồn truyền đến cuối cùng đã biến tướng.
Có người nói Hứa Thịnh Hoa bị tôi làm cho tức ch*t, có người nói trước khi ch*t ông ấy đã ch/ửi rủa cả làng, lại có người nói nhìn thấy ông ấy biến thành q/uỷ dữ nửa đêm lảng vảng trong làng.
Khi tôi ra tiệm tạp hóa m/ua th/uốc lá, ông già họ Lưu kéo tôi lải nhải suốt nửa tiếng.
Ông ấy nói Hứa Thịnh Hoa là kẻ mệnh khổ, cả đời ch/ôn vùi trong tay đàn bà.
Tôi bảo ông ấy không khổ, là tự tìm lấy.
Ông già họ Lưu chép miệng không nói gì thêm.
Cách hai ngày sau, bưu tá ở thị trấn gửi đến một lá thư.
Địa chỉ ghi là "Gửi Hứa Thịnh Hoa, làng Thượng Lâm", phần người gửi để trống.
Tôi bóc thư ra, bên trong là hai tờ giấy, viết đầy những dòng chữ xiêu vẹo.
Là do Hạ Du viết.
Trong thư nói bà ta không sống nổi ở Bắc Kinh nữa, hỏi Hứa Thịnh Hoa có thể gửi thêm cho bà ta chút tiền không.
Bà ta nói chân mình đã g/ãy, không làm được việc gì, ngày nào cũng đói bụng.
Lại còn nói sau khi Hứa Lương Thần bỏ đi thì không bao giờ quay lại nữa, một mình bà ta nằm trong tầng hầm chờ ch*t.
Cuối lá thư vẽ một bông hoa nhỏ.
Vẽ rất x/ấu, méo mó, giống như nét vẽ nguệch ngoạc của trẻ con.
Tôi gấp lá thư lại nhét vào phong bì.
Cả đời này Hứa Thịnh Hoa nhận được bao nhiêu lá thư của bà ta? Chắc đếm trên đầu ngón tay.
Lá nào cũng là đòi tiền.
Lá cuối cùng này, ông ấy sẽ không bao giờ nhận được nữa.
Tôi nhét lá thư vào trong bếp lò đ/ốt đi.
Ngọn lửa li/ếm lấy trang giấy, nét chữ từ từ cuộn lại và đen đi trong ngọn lửa, bông hoa nhỏ kia giãy giụa hai cái rồi hóa thành tro bụi.
Nửa tháng sau, có người phát hiện một cái x/ác ở bãi sông đầu làng.
Công an đến rồi lại đi, bảo là kẻ lang thang ở nơi khác đến, bị ch*t đuối.
Tôi đứng từ xa nhìn một cái, gương mặt người kia ngâm nước đến trắng bệch và sưng tấy, không nhìn rõ hình dáng.
Sau đó nghe người ta bảo, trên người kẻ đó không có bất kỳ giấy tờ tùy thân nào.
Không căn cước, không điện thoại, không có gì cả.
Giống như một người chưa từng tồn tại trên đời này vậy.
Tôi không đi x/ác nhận.
Năm nay mùa thu đến sớm.
Đầu tháng Chín hoa mộc tê đã nở, hương thơm ngào ngạt khắp sân không sao tan hết.
Mẹ tôi kê một chiếc ghế nằm dưới gốc cây, ánh nắng buổi chiều lọt qua kẽ lá, nhảy múa trên mặt bà thành những mảnh vụn.
Tôi bưng chén trà ngồi trên bậc thềm, nhìn hoa mộc tê trong sân rụng xuống.
Từng bông hoa nhỏ màu vàng kim, lững lờ rơi xuống đất, phủ một lớp mỏng nhẹ.
"Đang nghĩ gì thế?" Mẹ tôi nheo mắt hỏi.
"Không có gì ạ." Tôi nói, "Đang nghĩ về chuyện homestay năm sau thôi."
Chiếc ghế nằm đung đưa, hoa mộc tê lại rụng thêm vài bông.
Điện thoại reo một tiếng.
Là nhóm homestay của làng, có người gửi một bức ảnh -- ảnh chụp từ trên cao của làng Thượng Lâm.
Những căn biệt thự tường trắng ngói đen xếp hàng ngay ngắn, phía xa là núi xanh như nét vẽ, gần đây là suối nước chảy róc rá/ch.
Lời dẫn viết: "Làng mình đẹp thật đấy."
Tôi phóng to ra xem.
Ở góc ảnh vẫn có thể nhìn thấy mảnh đất mới cày xới, những mầm mạ xanh mướt đã nhú lên.
Căn nhà cũ của Hứa Thịnh Hoa đã hoàn toàn không còn dấu vết, ngay cả đường nét của nền móng cũng không nhìn ra được nữa.
"Thành Nặc --" mẹ tôi đột nhiên lên tiếng, "con có quen không?"
Tôi nghĩ một lúc: "Cũng không có gì không quen ạ."
Bà gỡ bông hoa mộc tê trên tóc xuống, đưa lên ánh nắng nhìn một chút: "Bố con -- ông ấy đợi nửa đời người, cuối cùng cũng chờ được rồi."
"Vâng ạ."