Bố chồng đã từ đồn công an trở về, ngồi trong sân hút th/uốc. Thấy tôi ra vào, ông không nói gì, chỉ ấn đầu lọc th/uốc xuống đế giày mà nghiền rất lâu.
Đốm lửa lụi tắt dưới đế giày ông, để lại một vết đen.
Trần Viễn nói với tôi rằng anh ta đã nhận được tiền đền bù giải tỏa ngôi nhà cũ. Số tiền lớn đến mức tôi không cần phải đi làm cả đời nữa. Biểu cảm khi anh ta nói không giống đang báo tin vui, mà giống như đang gây áp lực.
Anh ta trải thỏa thuận đền bù lên bàn trà, ngón tay chỉ vào con số đó rồi nói: “Em xem đi.”
Anh ta bảo: “Số tiền này chia làm hai phần, một phần là tiền dưỡng già của mẹ, một phần là của chúng ta.”
Tôi hỏi: “Thế còn chị chồng, phần của chị ấy đâu?”
Ánh mắt anh ta nhìn tôi khiến tôi nuốt ngược những lời định nói tiếp vào trong-- không phải hung dữ, mà là cái nhìn dành cho một kẻ đã biết quá nhiều, đang cân nhắc xem liệu cô ta có còn biết ngậm miệng lại hay không.
Cái nhìn đó tôi ghi nhớ cả đời.
Trần Viễn thu thỏa thuận đền bù lại, gấp làm tư, nhét vào túi quần rồi nói: “Phần của chị ấy để khi nào chị ấy về rồi tính.”
Tôi biết chị ấy sẽ không bao giờ về nữa, anh ta cũng biết tôi biết điều đó, nhưng anh ta vẫn nói, như thể đang đọc một đoạn kịch bản đã được tập dượt kỹ.
-- * --
Tôi bắt đầu lục lọi đồ đạc trong nhà cũ.
Tranh thủ lúc Trần Viễn đi m/ua thức ăn, bố chồng đang ngáy trong sân, tôi lẻn vào phòng ngủ của ông bà, kiễng chân, mỗi khi mở một ngăn kéo lại dừng tay để nghe ngóng động tĩnh ngoài sân.
Tiếng ngáy vừa ngưng, tôi cũng dừng lại, ngón tay cứng đờ giữa không trung; tiếng ngáy vang lên trở lại, tôi mới dám lục tiếp.
Lục đến chiếc vali da cũ trên tầng cao nhất của tủ quần áo, bên trong toàn là đồ của Trần Phương: chứng minh nhân dân, sổ tiết kiệm, một lá thư. Lá thư viết từ mười hai năm trước, mở đầu là “Mẹ, con không lấy chồng nữa, con nghe lời mẹ”, nhưng không được gửi đi.
Tôi mở lá thư ra, ngón tay kẹp mép giấy, đọc từng chữ một-- nét bút rất đậm, ba chữ “nghe lời mẹ” đã chọc thủng một lỗ nhỏ trên giấy.
Trong đầu tôi ong lên một tiếng: Chị ấy không lấy chồng nữa, rồi sao nữa?
Rồi chị ấy biến mất.
Trên chứng minh nhân dân, Trần Phương hai mươi tuổi, trong ảnh chị ấy mặc váy hoa, cùng một chiếc với trong khung ảnh.
Trong sổ tiết kiệm có một khoản tiền, mười hai nghìn, lần rút cuối cùng là một ngày trước tiết Thanh Minh mười hai năm trước.
Tôi tính toán ngày tháng-- rút tiền một ngày trước Thanh Minh, sau tiết Thanh Minh thì không còn động tĩnh gì nữa.
Ngày tháng đó chỉ cách thời điểm chị ấy gặp chuyện vài tháng, lúc đó chị ấy vẫn còn chịu nghe lời mẹ, sau đó chắc là đã đổi ý, hai người họ mới xảy ra mâu thuẫn.
Tôi đặt lá thư và sổ tiết kiệm về lại vali, tay r/un r/ẩy, nhưng đầu óc càng lúc càng tỉnh táo.
Trần Phương không phải đi làm thuê, chị ấy căn bản chưa từng rời khỏi ngôi nhà cũ này.
Tôi đóng nắp vali lại, ngón tay ấn vào khóa, phải ấn mấy lần mới vào khớp, tay tôi trơn nhẫy vì mồ hôi.
-- * --
Bữa cơm trưa, tôi cố tình nhắc chuyện giải tỏa với bố chồng.
Ông ta uống hai chén rư/ợu, bắt đầu nói nhiều hơn, bảo rằng: “Cái nhà này đáng lẽ phải dỡ bỏ từ lâu rồi, phong thủy không tốt.”
Tôi hỏi theo: “Sao lại không tốt ạ?”
Ông ta không đáp, tay cầm chén rư/ợu khựng lại, nói: “Già rồi, không nhớ rõ nữa.”
Nói xong ông đặt chén rư/ợu xuống bàn, tiếng chén đ/ập vào mặt bàn nghe rất giòn.
Tôi ngồi bên bàn không hỏi thêm nữa, cúi đầu ăn cơm, đũa chọc vào đáy bát phát ra tiếng lạch cạch.
Trong đầu tôi trải hết mẩu giấy, chứng minh nhân dân, sổ tiết kiệm, lá thư ra, ghép lại như trò chơi xếp hình-- đã ghép ra được một đường nét, nhưng vẫn thiếu mảnh ghép quan trọng nhất.
Tôi nuốt miếng cơm cuối cùng trong bát, nuốt rất chậm.
Tôi đặt bát xuống, cố tình ngáp một cái rồi nói: “Nhà hết muối rồi, con ra ngoài m/ua.”
Khi nói câu này, tôi không nhìn Trần Viễn, sợ anh ta phát hiện ra mắt tôi sáng hơn bình thường.
Trần Viễn đi theo tôi, dọc đường đi liên tục chào hỏi mọi người, cười nói với họ rằng: “Vợ tôi hiếu thảo lắm, đặc biệt về đây để chăm sóc mẹ tôi.”
Anh ta càng cười tự nhiên, tôi càng thấy lạnh buốt từ trong xươ/ng tủy.
Anh ta đi bên trái tôi, áp sát rất gần, vai th/ô b/ạo, vai thỉnh thoảng lại cọ vào vai tôi.
Trước cửa tiệm tạp hóa có mấy bà lão đang ngồi.
Lúc m/ua muối, tôi buột miệng hỏi: “Chị Trần Phương đi làm ăn xa nhiều năm thế không về lần nào ạ?”
Vỏ lạc trong tay một bà lão rơi xuống đất, bà không nhặt.
Vỏ lạc rơi trên nền xi măng, lăn hai vòng rồi dừng lại.
Bà cúi đầu nhìn mặt đất, không nhặt, cũng không nói gì.
Một bà lão khác nói lảng sang chuyện khác: “Chuyện từ đời nào rồi, người trẻ không hiểu đâu”, rồi kéo tôi sang bên cạnh, hạ thấp giọng nói: “Đừng hỏi nữa, chuyện nhà ông Trần đừng có mà tò mò, trong thôn ai cũng biết cái gì không nên biết thì đừng có biết.”
Khi nói câu này, bà không nhìn tôi mà nhìn xuống đất, môi mím ch/ặt thành một đường thẳng.
Tôi quay đầu nhìn lại, bà lão ăn lạc lúc nãy đang cầm hạt lạc còn sót lại trong tay, bóp nát, vụn lạc rơi xuống từ kẽ ngón tay bà.
Tôi xách túi muối bước ra khỏi tiệm, lời của bà lão cứ văng vẳng bên tai tôi-- “cái gì không nên biết thì đừng có biết”.
Túi muối lắc lư trong tay, tiếng m/a sát của túi nhựa nghe thật chói tai.
Tôi nhớ lại dòng chữ trên mẩu giấy “Phương, sau núi, mẹ không ổn”, nhớ lại bức ảnh của Trần Phương trong khung kính.