Tôi ngồi trên nền đất ẩm, bỗng nhiên bật khóc. Không phải vì đ/au, mà vì nhớ lại ngày vỡ đ/ập kiếp trước, cũng có một ông lão g/ãy chân bò trong bùn lầy. Lúc đó tôi đã không kịp kéo ông ấy. Bây giờ tôi mới biết cuộc sống của người c/ụt chân khó khăn đến thế nào - một người ngay cả nước giếng cũng không múc nổi.
Tôi lau nước mắt, dựng chiếc xô lên, chống nạng múc lại một xô nước, xách về cửa tiệm. Thiết Trụ ngồi xổm trên bậc cửa nhìn, không hỏi gì, đứng dậy quét sạch vũng nước trên đất.
Sau này có lần nó giúp tôi chuyển kệ hàng, bỗng nhiên nói: "Chị, năm đó chị bị nh/ốt trong chuồng bò, cổ họng chảy m/áu, là mẹ em bảo em đi lấy tr/ộm băng gạc và th/uốc giảm đ/au cho chị đấy."
Tôi sững người, không nói gì. Nó cũng không nói thêm nữa, bê thùng hàng đi mất.
Lại một hôm khác, nó hỏi tôi: "Chị, sao chị cái gì cũng biết thế?"
Tôi đáp: "Vì kiếp trước không biết, nên kiếp này mới học được chứ sao."
Nó nghe không hiểu, chạy đi trêu chó mất rồi.
Lúc nó chạy, dây giày bị tuột, kéo lê trên mặt đất. Tôi gọi nó một tiếng, nó ngồi xuống buộc, buộc thành một cục rối, đứng dậy chạy hai bước lại tuột ra. Nó đành nhét luôn dây giày vào trong giày, cứ thế chân trần chạy xa dần.
Tôi thu thước cặp vào hộp dụng cụ, lúc đóng nắp lại thì bị kẹp trúng ngón tay, đ/au đến mức xuýt xoa, đưa lên miệng thổi thổi.
Mỗi năm vào đông, Triệu Ái Quốc lại về một lần, đứng trên đ/ập một lát. Hai chúng tôi không nói gì, cứ đứng đó nhìn nước.
Có lần cậu ấy vào nhà uống nước, nhìn thấy chiếc áo bông cũ treo ở góc tường, tay áo bị rá/ch một lỗ, tôi đã vá lại, mũi kim đường chỉ của miếng vá xiêu vẹo. Cậu ấy không nói gì, chỉ kéo kéo tay áo xuống.
Năm đó lúc cậu ấy đi, để lại một hàng dấu chân trên tuyết. Tôi chống nạng đuổi theo hai bước, chiếc nạng lún sâu vào tuyết không rút ra được, đành đứng đó nhìn cậu ấy đi xa dần. Khi đến đầu làng, cậu ấy dừng lại một chút, tay rút từ trong túi ra như muốn tìm gì đó, nhưng cuối cùng chỉ chỉnh lại mũ rồi tiếp tục bước đi.
Có những đêm không ngủ được, tôi thường sờ vào đoạn chân bị c/ắt, đã không còn đ/au nữa, nhưng luôn cảm thấy cái chân đó vẫn đang đứng trên đ/ập.
Kiếp này vẫn còn rất dài. Tôi đã dùng nửa mạng sống để trả món n/ợ kiếp trước. Nửa mạng còn lại này, canh giữ con đ/ập này, nhìn ngắm những con người này, thế là đủ rồi.
Tôi dựa chiếc nạng vào đầu giường, nằm xuống, kéo chăn lên đến ngựk, mặt chăn là vải thô, hơi cọ vào cằm.
Đầu giường treo chiếc áo bông cũ của Triệu Ái Quốc, đã giặt sạch, nhưng mùi khói th/uốc vẫn còn, nhàn nhạt như làn khói bếp từ xa vọng lại.
Tiếng nước của hồ chứa phía xa vẫn ầm ầm vang vọng, nhưng lần này, nó chỉ là nước, không phải là nấm mồ.
Tôi chống nạng đi vào trong làng, chiếc nạng đ/âm xuống con đường đất đóng băng từng lỗ nhỏ. Gió rất lớn, nhưng tôi không ngoái đầu lại.
Chẳng còn gì phải ngoái đầu nhìn lại nữa. Nước ở phía sau, đường ở phía trước.
Khi đến cửa tiệm, thấy Thiết Trụ ngồi xổm trên bậc cửa đợi tôi, tay nắm ch/ặt một viên kẹo, giấy bọc kẹo màu đỏ, nhăn nhúm. Nó đưa kẹo cho tôi, nói: "Chị, em thi được hạng nhất rồi."
Tôi nhét viên kẹo vào túi, xoa đầu nó. Tóc trên đầu nó cứng như lông lợn, đ/âm vào tay đ/au điếng.
Tôi đẩy cửa, chiếc nạng dò đường trước, thân người theo sau, ánh nắng đuổi theo gót chân tôi, trải dài khắp mặt đất.
Trên bậc cửa, đầu sắt của chiếc nạng va nhẹ một cái, phát ra tiếng kêu giòn tan.
Thiết Trụ phía sau cười khúc khích, phía xa xa, tiếng chó nhà ai đó cũng sủa lên một hồi.
Chỉ là lần này, không phải là h/ận th/ù, mà là cuộc sống. Giống như tiếng con d/ao va vào mép lò sưởi năm nào - nhưng con d/ao đó đã cất đi từ lâu rồi, chiếc nạng này, là do chính tôi chọn.