“Chị dâu, bây giờ chị hối h/ận vẫn còn kịp.”
Tôi không trả lời.
Đêm đến, hắn vẫn ngáy khò khò ở chính đường, tôi vẫn dùng khe tường để đăng bài - loạt tiểu thuyết đăng kỳ đã viết từ "người đàn bà ch*t một lần trong năm đầu lấy chồng" đến "cô ấy phát hiện ra dưới đáy sông không chỉ có mình cô ấy", trong khu bình luận có người bắt đầu vẽ bản đồ địa lý của ngôi làng.
Đêm trước ngày làm lễ, có một cô gái mò mẫm trong bóng tối đến gõ khe cửa sổ phòng phụ, nói nhỏ:
“Chị dâu, ngày mai chị đi cùng em, em biết sau núi có một con đường nhỏ.”
Một nửa khuôn mặt lộ ra qua khe cửa sổ. Ánh trăng chiếu lên thái dương cô ấy, soi sáng một mảng da non nớt, lông mày rất nhạt, trên sống mũi có vài đốm tàn nhang.
Tôi nhận ra cô ấy - con gái của Trần Hữu Điền, tên là A Hòa, mười chín tuổi, đang học ở trường vệ sinh thị trấn, ngành điều dưỡng. Làng có đám tang, cô ấy bị gọi về giúp, mặc đồ tang, bưng trà rót nước, rửa rau trong bếp, mãi vẫn chưa đi được.
Cô ấy áp sát vào khe cửa sổ, ngón tay thò vào qua khe ván gỗ một đoạn ngắn, móng tay được c/ắt tỉa sạch sẽ, sơn lớp sơn bóng trong suốt, viền móng bị bong da, là dấu vết để lại do thói quen cắn móng tay.
Cô ấy nhét một mảnh giấy qua khe hở.
Mảnh giấy x/é ra từ vở bài tập, mép không đều, trên giấy vẽ con đường nhỏ từ cửa sau từ đường đến sau núi - đầu tiên vòng qua đống củi sau nhà vệ sinh, rồi men theo kênh nước đi nửa dặm, băng qua nghĩa địa - dưới nghĩa địa có bảy nấm mồ, đến nấm mồ thứ bảy thì rẽ trái lên dốc - leo qua sống núi là đến đường cái, bên đường cái có cột mốc giới, cạnh cột mốc có cây tùng khô, nhận ra cái cây đó là đúng.
Ở mặt sau mảnh giấy, cô ấy viết: Bố em và trưởng thôn là một bọn, nhưng em không thể chịu đựng thêm được nữa. Hôm qua em nhìn thấy bố em đóng dấu vân tay lên giấy n/ợ, em mới biết, giấy n/ợ đó là giả.
Mấy chữ "không thể chịu đựng thêm được nữa" được viết rất đậm, ngòi bút đ/âm thủng cả giấy.
Tôi đọc mảnh giấy hai lần, gấp lại bằng đ/ốt ngón tay, nhét vào túi bí mật trong cạp quần.
Sau sáu ngày bị giam cầm, lần đầu tiên có người chủ động chìa bàn tay thiện chí cho tôi. Sự thiện chí này quá đột ngột - tôi thò ngón tay qua khe cửa, nắm lấy đầu ngón tay của A Hòa.
Tay cô ấy lạnh buốt, không phải cái lạnh do thời tiết, mà là cái lạnh do căng thẳng gây ra, cô ấy đang run, run đến mức đ/ốt ngón tay va nhẹ vào lòng bàn tay tôi.
Tôi không nói gì, chỉ nắm lấy, mu bàn tay quẹt vào sợi chỉ thừa trên cổ tay áo cô ấy, những sợi chỉ đó mảnh và cứng, như thể đã bị bàn giặt chà xát nhiều lần.
Cô ấy rút tay lại, lùi về sau hai bước, giẫm phải thứ gì đó ẩm ướt, sau này tôi mới biết đó là lớp rêu xanh ở góc tường sau từ đường.
Chúng tôi hẹn nhau - ba giờ chiều ngày hôm sau, khi cả làng đang ăn tiệc ở chính đường, cô ấy sẽ cạy khóa cửa sau từ sân sau.
Cô ấy nói cô ấy biết ổ khóa sắt là loại khóa treo cũ, chìa khóa treo trên thắt lưng trưởng thôn, nhưng dùng dây thép chọc vài cái là mở được, cô ấy từng học cách tháo lắp dụng cụ ở trường vệ sinh.
“Đến lúc đó sẽ có một người bạn -”
Khi nói chuyện, cô ấy vén những sợi tóc rối ra sau tai, tay vẫn còn run,
“Chạy xe máy đợi ở chân núi bên đường cái, chở chị đến bến xe huyện, chị lên một chiếc xe khách qua đường rồi đi luôn, đừng ngoảnh đầu lại.”
Tôi gật đầu.
Biên độ gật đầu rất nhỏ, vì sợ bên ngoài cửa sổ có người nhìn thấy.
Đêm đó tôi không chợp mắt. Không phải vì kế hoạch. Mà vì đã có hy vọng.
Có hy vọng còn khó chịu đựng hơn là không có hy vọng. Khi không có hy vọng, chỉ cần gồng mình lên là được.
Khi đã có hy vọng, đầu óc không thể ngừng suy nghĩ - liên tục diễn tập từng bước của chiều mai, liên tục tưởng tượng cảnh mình ngồi trên xe khách, liên tục lo lắng liệu A Hòa có cạy được khóa không, bạn của cô ấy có đến không, trên đường có trạm gác không.
Hy vọng giống như một con d/ao cùn, không c/ắt đ/ứt một lần mà cứa đi cứa lại. Điều này còn khó chịu hơn cả những ngày bị đá/nh trước đó. Khi bị đá/nh không cần phải suy nghĩ, chỉ cần chịu đựng. Khi có hy vọng, thứ cần chịu đựng nặng nề gấp ba lần.
Trời sáng rồi.
Ánh nắng len qua khe cửa sổ, vẽ một đường kẻ trắng mảnh dài trên mặt đất. Tôi nhìn đường kẻ đó bò từ chân cửa sổ đến góc tường, bò suốt cả buổi sáng.
Buổi trưa, chính đường từ đường trở thành một không gian khác - âm thanh bên cạnh đã khác rồi. Tiếng cụng ly, tiếng hô "rót đầy, rót đầy", tiếng nói say sưa, còn có tiếng bước chân trẻ con chạy nhảy trong đám đông, tiếng giọng the thé của mấy người phụ nữ cười m/ắng chồng mình "đừng ép uống nữa".
Tất cả những âm thanh đó vọng qua bức tường, ù ù truyền đến, giống như tiếng vo ve trong tổ ong, mỗi con ong đều bận rộn, tất cả sự bận rộn đó đang tạo thành một vòng xoáy bao vây lấy tôi.
Mùi thức ăn thơm phức bay vào qua khe cửa - th!t kho tàu, cá sốt chua ngọt, gà hầm, chân giò hấp - mùi b/éo ngậy quyện với mùi khói pháo, xộc vào phòng phụ.
Tôi ngồi trên mép giường, xỏ chân vào giày vải, không buộc dây giày - buộc dây giày sẽ lãng phí mất ba giây.
Hai giờ bốn mươi phút chiều. Cửa mở. Không phải tiếng cạy khóa, mà là tiếng xích sắt loảng xoảng được tháo ra từ bên ngoài, tiếng chốt gỗ được nhấc lên như mở cửa bình thường.
Cửa vừa mở, người đứng đó không phải A Hòa. Là em chồng, trưởng thôn, và bố của A Hòa - Trần Hữu Điền.