Chương 1: Khoác lên, theo ta đi
Phu quân viết một tờ hưu thư đuổi ta ra khỏi cửa, ta co quắp trên ngưỡng cửa ngôi miếu hoang bên đường.
Một chiếc kiệu vải xanh dừng lại trước mặt ta, màn kiệu vén lên một nửa, người bên trong ném một chiếc áo choàng lên đầu ta:
“Khoác lên, theo ta đi.”
Khi chiếc áo choàng rơi xuống, mang theo mùi trầm hương, thứ mùi ấy đậm đặc như lớp tro hương tích tụ bao năm trong miếu.
Ta nắm ch/ặt lấy vạt áo, đây là vải đoạn, giống hệt bìa sổ sách mà sáu năm qua ngày nào ta cũng chạm vào--một kẻ bị ruồng bỏ, đã chép sổ sách ở nhà họ Thẩm suốt sáu năm trời.
Bên ngoài màn kiệu, bước chân của phu kiệu khựng lại, đò/n gánh kẽo kẹt một tiếng rồi lại tiếp tục bước đi.
Khi người kia nói “bản cung”, giọng hạ thấp xuống, thế nhưng âm cuối lại hơi vểnh lên, như thể người vốn quen xưng hô như vậy nay lại tạm thời đổi cách xưng.
Khi kiệu được nhấc lên, nó chao đảo một cái, trán ta đ/ập vào thành kiệu, ta không hề lên tiếng.
Ta nhìn chằm chằm vào những vết vá trên màn kiệu, đầu óc quay cuồ/ng, chỉ nhớ chiếc áo choàng trên người là vải đoạn, lớp lông Iót bên trong cọ vào cổ, cảm giác y hệt bìa sổ sách mà sáu năm qua ta từng chạm tới.
Kiệu cứ lắc lư đi mãi, tiếng rao b/án hoành thánh bên ngoài, tiếng đ/ập sắt lạch cạch, tiếng trẻ con nhà ai bị đá/nh khóc vang, từng lớp từng lớp tràn vào trong.
Ta vén một góc màn nhìn ra ngoài, chỉ thấy một mụ già đang ngồi xổm dưới chân tường nhặt rau, lá rau chất đống trên mặt đất, vàng vàng xanh xanh. Bà ta ngước nhìn ta một cái, rồi lại cúi đầu xuống.
Ta buông màn xuống, không hiểu sao lại nhớ đến con mèo hoang trong miếu hoang từng li/ếm ngón tay ta, li/ếm xong liền bỏ đi.
Thế nhưng trước đó nữa, trong đêm ở miếu hoang, khi ta đang ngồi xổm trước hốc cây hòe để giấu sổ sách, sau lưng bỗng truyền đến tiếng đò/n gánh kẽo kẹt--ta quay đầu lại, nhìn thấy một gã đàn ông gánh thùng phân đang đứng cách đó vài bước châm th/uốc, đốm lửa th/uốc lá sáng tắt trong màn đêm, gã ho một tiếng, gánh thùng đi mất.
Khi đó ta chẳng nghĩ ngợi gì nhiều, chỉ coi gã là người canh đêm đi vệ sinh.
Kiệu rẽ vào một con ngõ hẹp, xung quanh bỗng chốc yên tĩnh hẳn, chỉ còn nghe thấy tiếng bước chân của phu kiệu và tiếng đò/n gánh kẽo kẹt.
Ta có chút muốn vén màn xem đã đến nơi nào, tay đưa ra một nửa rồi lại rụt về--ngộ nhỡ là nơi không nên nhìn thì sao?
Sáu năm chép sổ ở nhà họ Thẩm, điều đầu tiên học được chính là không nên nhìn thứ gì thì đừng nhìn.
Thế nhưng giờ đây ta không còn là người nhà họ Thẩm nữa, quy tắc này còn hiệu nghiệm chăng?
Khi kiệu dừng lại, trước tiên nghe thấy tiếng một cánh cửa nặng nề được đẩy ra, tiếng kẽo kẹt kéo dài lê thê.
Người ta vén màn kiệu từ bên ngoài, ánh sáng chói lòa khiến ta phải nheo mắt, một bàn chân mang ủng đen bước lên bàn đạp kiệu, trên mặt ủng dính vài vệt bùn, người phía trên không nói lời nào.
Ta nhìn chằm chằm vào chiếc ủng đó một hồi lâu, mới nhớ ra mình nên xuống kiệu.
Lúc xuống kiệu, ta giẫm phải vạt áo kéo lê trên đất, lảo đảo một cái, bên cạnh có một tiểu đồng đưa tay ra muốn đỡ, tay đưa ra một nửa rồi lại rụt về, như thể sợ chạm vào người ta.
Tay áo bên trái của tiểu đồng đó bị hụt một đoạn, đi đứng hơi khập khiễng.
Ta tự đứng vững lại, đưa tay lau lớp bụi trên mặt--vết bụi dính trên ngưỡng cửa miếu hoang, vẫn còn đó.
Ta được dẫn vào một đại sảnh u ám, cửa sổ chạm trổ dán lớp sa dày, ánh mặt trời xuyên qua trở thành một mảng xám xịt.
Trong phòng thoang thoảng mùi trà cũ hòa lẫn mùi sách cũ, ngửi giống như gian chứa sách phía sau phòng sổ sách nhà họ Thẩm, nơi ta đã chép sổ suốt sáu năm.
Đứng trong căn phòng này, tay ta vô thức làm động tác mài mực, mài hai cái mới sực nhớ ra, nơi này không có mực.
Trên chiếc ghế thái sư đặt chính giữa đại sảnh có một người đang ngồi.
Thứ ta nhìn thấy đầu tiên không phải là khuôn mặt, mà là thẻ bài đeo bên hông--hình rồng, phủ Vinh Thân Vương.
Nhìn lên phía trên, một khuôn mặt chưa đầy bốn mươi tuổi, đuôi mắt hơi rủ xuống, như thể thức đêm quá nhiều, nếp nhăn nơi khóe miệng rất sâu, lúc không cười trông có vẻ khắc khổ.
Chiếc áo bào người đó mặc đã cũ, cổ tay áo sờn bạc, không giống với những vị vương gia trong ấn tượng của ta.
Tiểu đồng bị hụt mất một đoạn tay áo bên trái lúc nãy bưng chén trà đặt bên cạnh người đó, khẽ nói: “Vương gia mời dùng trà.”
Người đó không tiếp nhận, ánh mắt đã rơi trên người ta.
Trong lòng ta thót một cái.
Câu “bản cung” trong kiệu lúc nãy--bản cung là cách tự xưng của nữ quyến trong cung, một vị vương gia như người sao lại nói ra?
Là lỡ lời, hay là có ẩn tình gì khác?
Ta không dám hỏi, chỉ biết chuyển ánh mắt lên chiếc tủ bày đồ cổ sau lưng người đó, những món đồ trang trí trên kệ đã phủ một lớp bụi.
Thẻ bài là thật, cách gọi của tiểu đồng cũng là thật, thế nhưng câu “bản cung” kia giống như cái gai mắc trong cổ họng, nuốt không trôi.
Vinh Thân Vương lên tiếng, giọng không nặng nề: “Lâm thị, ngươi đã chép sổ sách cho nhà họ Thẩm sáu năm, tập hồ sơ trong tay bản vương đây, ngươi có thấy quen mắt không?”
Khi người nói hai chữ “quen mắt”, âm cuối trầm xuống, như đang đọc một bản phán quyết.
Tiểu đồng bị hụt mất một đoạn tay áo bên trái từ bên cạnh bước ra, trong tay ôm một chiếc bọc, khi đi đến trước mặt ta thì do dự một chút, rồi mới đặt xuống đất.