Hắn chỉnh lại gọng kính, lúc đặt miếng ngọc xuống thì hơi mạnh tay, miếng ngọc va vào mặt quầy kêu lên một tiếng “bộp”. Hắn gằn giọng: “Ngươi là ai?” Giọng không lớn, nhưng cơn buồn ngủ trong mắt đã tan biến sạch.
“Cháu gái của chưởng quầy Lưu, chú ta tháng trước nộp quá nhiều, tháng này không còn gạo nấu cơm.” Ta bịa chuyện.
Khi nói hai chữ “chú ta”, lưỡi ta hơi líu lại, suýt nữa nói thành “biểu ca”--bịa chuyện nhiều quá, đến chính ta cũng suýt không nhớ nổi. Ta vội cúi đầu, giả vờ nhặt lá úa trên rau. Nói xong câu đó, ta cố tình thở dài, lấy một cọng rau héo trong giỏ ra mân mê, để bản thân trông giống một mụ đàn bà nghèo khổ hơn.
Triều phụng nhìn quanh, trong tiệm không có ai khác, chỉ có một con mèo hoa đang nằm ngủ dưới gầm quầy. Hắn hạ thấp giọng, âm thanh như bị ép ra từ khe cửa: “Đừng có hỏi bậy. Đơn cầm cố của chưởng quầy Lưu đã bị người ta rút mất rồi--chuyện đêm qua thôi.”
Nói xong, hắn đẩy hai lượng bạc trả lại, thỏi bạc trượt trên mặt quầy rồi dừng lại bên tay ta. “Tiền này ta không lấy, tốt nhất ngươi đừng hỏi han gì nữa, coi như chưa từng gặp ta.” Nói đoạn, hắn quay lưng lại, lấy chổi lông gà giả vờ phủi bụi.
Ngón tay ta nắm ch/ặt trong ống tay áo, đ/ốt ngón tay tì vào lòng bàn tay--chuyện đêm qua. Thủ phụ bắt đầu thanh trừng vòng ngoài rồi, nhanh hơn ta tưởng.
Lời gã triều phụng tuy ngắn, nhưng bốn chữ “chuyện đêm qua” đã tiết lộ tất cả: đại lao Thuận Thiên Phủ đang giam người, còn tiệm cầm đồ bên này đang rút đơn, hai việc diễn ra cùng lúc.
Ta không dây dưa thêm, thu dọn ngọc bội và bạc vụn rồi xoay người ra cửa. Lúc bước qua ngưỡng cửa, ta ngoái lại nhìn thoáng qua--trên góc bàn của hắn đ/è mấy tờ đơn cầm cố, phía trên đóng dấu đỏ của “Hiệu vải Thuận Hưng”, dấu ấn còn mới, chắc là sáng nay mới đóng. Nghĩa là người của Thủ phụ vẫn chưa kịp thanh trừng hết các tiệm cầm đồ.
Từ tiệm cầm đồ đi ra, ta đứng bên đường một lát, thấy đối diện có một tiệm hút th/uốc phiện, trên rèm cửa thêu chữ “Khói”, khói dầu hun đen cả tấm rèm. Ta rẽ vào, dùng hai lượng bạc đổi lấy một đống manh mối lặt vặt--ta đưa tiểu nhị một lượng bạc, hắn cân nhắc rồi nhét vào ngựk, hạ thấp giọng nói, tháng trước chưởng quầy Lưu đến đây hút th/uốc, lúc phê th/uốc uống say đã ch/ửi bới, m/ắng rằng “tiền hiếu kính đều nộp vào tay Thôi Tam ở cửa sau Túy Tiên Lâu”.
Thôi Tam. Cái tên này ta dùng bút mòn ghi tạc trong lòng, lại lấy tấm vải Iót trong giỏ ra, dùng bút mòn vẽ ba vòng tròn trên đó. Đầu bút nứt rồi, khi vẽ vòng tròn, mực từ vết nứt chảy ra, tô vòng tròn thành một cục đen ngòm.
Ta nhét miếng vải vào giỏ, lúc ra khỏi tiệm hút th/uốc suýt chút nữa đ/âm sầm vào một ông lão đang bưng bô nhổ. Thế nhưng lòng ta đã an tâm hơn một chút--Thôi Tam không chỉ liên đới với chưởng quầy Lưu, mà dòng chữ “Cửa hàng Thôi Tam” ta từng thấy bên lề sổ sách đã khớp hoàn toàn với manh mối trước mắt.
Ba ngày tiếp theo, ta chạy ngược chạy xuôi không kể ngày đêm, vào bảy tiệm cầm đồ, bốn sò/ng b/ạc, hai tiệm gạo. Trên đường chỉ ngủ được hai ba canh giờ, buồn ngủ thì ngồi bên vệ đường chợp mắt, tỉnh dậy trong miệng toàn vị đất.
Khi đang dò hỏi ở một sò/ng b/ạc, lời còn chưa dứt, gã tiểu nhị đã cầm ấm trà ném về phía ta, ấm trà vỡ tan trên ngưỡng cửa, mảnh sứ b/ắn tung tóe, nước sôi văng lên mu bàn chân ta. Ta nhảy lùi một bước, mu bàn chân bị bỏng một mảng đỏ rực. Thế nhưng nhờ cái nhảy đó, ta nhìn thấy trên tường sau quầy có treo một tấm biển gỗ phai màu, phía trên khắc ba chữ “Cửa hàng Thôi Tam”--quả nhiên là ở đây.
Ta nhịn cơn đ/au bỏng trên mu bàn chân, lấy bút mòn từ trong miếng vải rá/ch ra, vẽ hai chữ “Biển gỗ” lên mu giày. Vẽ xong cúi đầu nhìn giày mình, mu giày vừa vết bỏng vừa vết mực, thảm hại không ra hình th/ù gì. Nhưng sự thảm hại này rất đáng--Thôi Tam không chỉ là kẻ thu tiền ở cửa sau Túy Tiên Lâu, hắn còn có cửa tiệm riêng của mình.
Mỗi nơi dò hỏi đều như đang bới đất tìm sâu, bới một cái chỉ tìm ra vài mảnh vụn. Ở tiệm gạo kia, ta đẩy cửa vào, gã kế toán ngẩng đầu nhìn ta một cái, ta buột miệng: “Nghe nói Thôi Tam gia của các người...” Lời chưa dứt, sắc mặt hắn đã biến đổi, “bộp” một tiếng đóng sầm cửa lại, luồng gió ép ra từ khe cửa tạt thẳng vào mặt ta.
Ta nắm ch/ặt miếng vải rá/ch ngồi xổm ở đầu ngõ, dùng bút mòn khoanh tròn những cái tên có thể x/ác nhận--chưởng quầy Lưu, Thôi Tam, ngân hàng Thái Phong. Ngồi lâu chân tê dại, lúc đứng dậy vịn vào tường, bụi vôi trên tường dính đầy một tay.
Trên đường ăn một bát hoành thánh, sạp hoành thánh đặt dưới gốc cây hòe đầu ngõ, chủ quán là một ông lão chột mắt, trong nồi hơi nước bốc lên nghi ngút. Khi múc hoành thánh, ông ta nói trong giới tiểu lại phía nam thành đang đồn “Thủ phụ bắt đầu thanh trừng”, đã có ba người bị điều đi khỏi kinh thành, một kẻ đi phương Nam, hai kẻ kia không rõ đi đâu. Tay múc nước dùng của ông ta không hề ngập ngừng, bình thản như đang nói hôm nay hành tăng giá vậy. Tim ta thắt lại, bát canh không sao nuốt nổi. Nếu không nhanh tay, chứng cứ sẽ bị kẻ đó dọn sạch. Ba con cá đó sắp bị người ta vớt khỏi bùn, ném vào chảo dầu chiên giòn, đến xươ/ng cũng chẳng còn.