Tôi kẹp ống nghe giữa vai và tai, vừa nghe vừa dùng một cuốn sổ cũ để ghi chép, nét bút ngoằn ngoèo. Tôi chuyển vụ án của bà cụ đó cho luật sư Phương. Ông ấy nhìn qua rồi bảo ông ấy đã nhận không ít vụ kiểu này, logic pháp lý rất đơn giản: qu/an h/ệ nuôi dưỡng được pháp luật bảo vệ, còn quyền nuôi dạy của cha mẹ ruột đã mất đi do hành vi bỏ rơi. Nhưng ông ấy lại nói: Cái khó không nằm ở pháp luật, mà là gia đình kia ngày nào cũng đến cửa làm lo/ạn, chặn đường ở trường học, gọi điện quấy rối, loại "b/ạo l/ực mềm" này rất khó lấy chứng cứ.
Bà cụ họ Chu, sau này tôi gọi là dì Chu. Luật sư Phương giúp dì gửi thư luật sư, đối phương kiềm chế được hai tuần, đến tuần thứ ba lại tái diễn. Khi dì Chu gọi điện cho tôi, âm thanh nền là tiếng ai đó đang đ/ập cửa, tiếng "thình thịch" truyền qua ống nghe khiến tim tôi đ/ập lo/ạn nhịp theo từng nhịp đ/ập đó. Tôi bảo dì đừng mở cửa, đồng thời dùng một chiếc điện thoại khác báo cảnh sát giúp dì. Cảnh sát đến rất nhanh, dì Chu từng báo án trước đó nên cảnh sát khu vực đã quen mặt dì. Mấy kẻ đ/ập cửa đã chạy mất trước khi cảnh sát tới, để lại một đống tàn th/uốc đầy cửa.
Sau sự việc này, tôi nhận ra rằng những người cần giúp đỡ không chỉ cần một người biết lắng nghe, mà còn cần một hệ thống hỗ trợ có thể dạy họ "cách tự bảo vệ mình". Chỉ "tôi hiểu bạn" là không đủ, phải có người nói "bạn làm như thế này, sẽ an toàn hơn một chút". Tôi bắt đầu tự học kiến thức pháp luật liên quan, mỗi tối đọc sách một tiếng rưỡi. Luật sư Phương tặng tôi bộ giáo trình cũ ông ấy dùng khi thi tư pháp, gáy sách đã rá/ch, bên trong chi chít các ghi chú.
Tôi đọc dưới ánh đèn ngủ ở phòng trọ, chỗ nào không hiểu thì tra c/ứu trên điện thoại, tra không ra thì gọi cho luật sư Phương. Ông ấy lúc nghe lúc không, nếu trả lời cũng chỉ nói vài câu đơn giản: "Cái này cô không cần hiểu sâu đến thế". Nội dung của nhóm hỗ trợ từ tâm sự đã mở rộng sang hướng dẫn thực tế: cách lưu giữ chứng cứ, cách xin lệnh bảo vệ an toàn cá nhân, cách tìm viện trợ pháp lý, cách cài đặt liên lạc khẩn cấp trên điện thoại. Trong một buổi thực hành, tôi làm mẫu cách chụp ảnh vết thương do bạo hành, tay làm tư thế dưới ánh đèn bàn, các thành viên lấy điện thoại ra chụp theo. Có một cô gái sau khi chụp xong nhìn ảnh trong điện thoại, đột nhiên úp điện thoại xuống đùi, mắt đỏ hoe, thì thầm rằng trước đây cô từng chụp một lần nhưng bị bố phát hiện, toàn bộ ảnh đều bị xóa sạch.
Tôi bảo, vậy lần này em lưu vào đám mây, đặt mật khẩu riêng đi.
Lá thư thứ hai của Tiểu Niệm gửi đến địa chỉ mới của phòng trọ. Trên phong bì dán một miếng sticker mèo con hoạt hình, góc hơi nhăn nhưng tổng thể rất sạch sẽ. Trong thư kể rằng ở nội trú rất ổn, phòng có bốn người, có một bạn nữ nửa đêm khóc trong chăn, cô bé đã dậy rót cho bạn cốc nước. Ở cuối thư, Tiểu Niệm viết: "Em để sợi dây chuyền đó dưới gối. Mỗi khi không ngủ được, em lại chạm vào nó, cảm thấy có người tin tưởng em."
Khi đọc đến câu này, tôi đang ngồi dưới ô cửa sổ gác mái, ánh trăng chiếu lên trang giấy, tôi giơ lá thư lên trước ánh sáng, nhìn thấy độ đậm nhạt khác nhau của mực viết. Tôi viết thư trả lời bằng một tấm bưu thiếp, mặt trước là ảnh chợ thực phẩm dưới lầu mà tôi chụp bằng điện thoại, trong ảnh có một bác b/án rau đang cười với ống kính, tay cầm một nắm hành. Tôi viết: "Đây là những gì chị thấy mỗi ngày, người ta cũng như hành vậy, đều là hướng lên trên mà lớn". Viết xong thấy câu này hơi sến, nhưng vẫn gửi đi.
Ngày tròn một năm kể từ khi ký thỏa thuận với nhà họ Triệu, tôi không làm gì cả. Sáng tỉnh dậy nằm thêm nửa tiếng trên giường, nhìn chằm chằm vào ô cửa sổ trên trần nhà. Ngoài cửa sổ là những tầng mây xám trắng, như một tấm kính mờ. Tôi nhẩm tính trong lòng: Đã một năm không nói một câu nào với người nhà họ Triệu rồi. Năm nay không có thư luật sư mới, không có điện thoại quấy rối, không có người lạ chặn cửa. Với tôi, đó chính là chiến thắng.
Chiều ra ngoài m/ua hai cái bánh nướng, ngồi trên bậc thềm dưới lầu ăn, vừng rơi đầy đất. Có một con mèo hoang ngồi cách vài mét nhìn tôi, tôi bẻ một mẩu vỏ bánh ném qua, nó ngửi rồi không ăn, nhưng vẫn tiến lên phía trước hai bước, đuôi dựng đứng.
Luật sư Phương có lần hỏi tôi có từng nghĩ đến việc đi thăm Triệu Trấn không, ông ấy vẫn ở trung tâm phục hồi chức năng, nghe nói tình trạng không tốt lắm. Tôi bảo tôi không đi. Ông ấy hỏi tại sao. Tôi nghĩ một chút rồi nói: "Vì nếu em đi thăm ông ấy, ông ấy sẽ nghĩ là em quan tâm. Em không quan tâm". Luật sư Phương gật đầu, không nói gì thêm, dùng đũa gắp miếng th!t kho cuối cùng trong hộp cơm.
Khi nhóm hỗ trợ làm đến kỳ thứ hai mươi, chủ quán trà lại cho chúng tôi mượn phòng riêng miễn phí, ông ấy bảo vợ ông ấy nghe kể về chuyện của chúng tôi đã m/ắng ông ấy một trận. Ông ấy gửi tặng chúng tôi một ấm Thiết Quan Âm, lúc vào cửa vừa gãi đầu vừa cười nói: "Các người cứ tự nhiên trò chuyện, tôi ra ngoài đón khách đây".