nhìn rất lâu, hai tay buông thõng bên người, không hề r/un r/ẩy. Từ lúc đó tôi đã biết - người báo cảnh sát chính là cô.
"Cô đ/ốt nhà, ly gián, báo cảnh sát, việc nào cô làm tôi đều biết. Tôi vẫn luôn không nói ra - không phải vì cô cao tay hay giỏi giang, mà vì tôi thấy cô đáng thương."
Nó nhấn mạnh hai chữ cuối cùng, nặng nề như đang đọc điếu văn. Hai chữ "đáng thương" phát ra từ miệng nó còn khiến tôi khó chịu hơn cả khi bị ch/ửi bới. Tôi nghiến ch/ặt răng, cổ họng nghẹn đắng.
Tôi đột nhiên lên tiếng. Giọng khàn đặc như giấy nhám cọ trên tấm sắt, trong cổ họng như đang ngậm cát:
"Triệu Đức Nghĩa. Ba anh em các người chỉ có mình anh không vào phòng. Tại sao?"
Câu hỏi này tôi đã nghĩ ra sau bao nhiêu ngày đêm trong bóng tối. Không phải để phản bác nó, không phải để c/ầu x/in, không phải để giải thích, chỉ là một câu hỏi.
Nó im lặng rất lâu, lâu đến mức chiếc gậy chống xoay trọn một vòng trong lòng bàn tay nó rồi dừng lại.
Một cơn gió thổi qua sân, lùa vào trong hầm, thổi mảnh bát vỡ khẽ va vào tường đất.
Cuối cùng nó nói một câu:
"Không biết."
Nói xong nó quay mặt đi, nhìn cây táo vẹo cổ trong sân.
Nó đậy nắp hầm lại, không đóng ch/ặt hoàn toàn, để lại một khe hở rộng bằng ngón tay. Ánh trăng lọt qua khe hở, mảnh mai như một cây kim bạc.
Khi nó quay người bước đi, tiếng gậy chống xuống đất cộp - cộp - cộp, âm thanh dần xa khuất.
Tôi nhìn chằm chằm vào khe ánh trăng đó rất lâu, khắc ghi dáng vẻ nó nói "không biết" dưới ánh trăng vào trong đầu.
Một người không biết tại sao mình không làm điều á/c, còn có khả năng "rớt xích" vào thời khắc then chốt hơn là một kẻ biết rõ mình đang làm điều á/c.
Nó không có đủ lý do để tiếp tục làm á/c, nhưng cũng chẳng tìm được lý do đủ thuyết phục để dừng lại. Người như thế này có một cái tên - kẻ do dự.
Kẻ do dự không cần phải thuyết phục, chỉ cần một khoảnh khắc khiến nó cảm thấy "nếu không làm sẽ hối h/ận". Đó là thứ tôi cần dùng đến.
Tôi lấy miếng băng vệ sinh từ trong cạp quần ra, soi dưới khe ánh trăng - vết m/áu trên lớp vỏ nhựa đã đen hoàn toàn, mép giấy rá/ch một đường nhỏ.
Tôi gấp mép rá/ch vào trong, dùng ngón cái ấn phẳng, rồi cất lại vào chỗ cũ. Hành động này mang lại cho tôi một sự bình tĩnh kỳ lạ.
-- * --
Những ngày tiếp theo, tôi tiếp tục giả đi/ên.
Ban ngày lẩm bẩm trước chân tường, lắc lư cơ thể, nôn khan, ban đêm mở mắt trong bóng tối đợi trời sáng.
Chiếc điện thoại vẫn còn trong túi tôi - chiếc điện thoại cũ dùng để báo cảnh sát, màn hình hoàn toàn không sáng nữa, nhấn nút nào cũng không phản ứng.
Nhưng khi nhấn giữ nút nguồn và ấn ch/ặt vào điểm tiếp xúc pin thì vẫn có thể lóe lên một tia sáng yếu ớt, không lắp sim, về lý thuyết thì số khẩn cấp vẫn có thể liên lạc, bốn chữ "Gọi khẩn cấp" ở góc trên bên trái màn hình vẫn có thể sáng.
Nhưng điểm tiếp xúc pin chỉ cần lỏng là mất điện, ánh sáng màn hình lóe lên cái là tắt, thử mấy lần đều không thể gọi đi được.
Tôi không nỡ vứt, dùng túi ni lông bọc ba lớp, nhét vào nơi sâu nhất của cái lỗ nhỏ dưới chân tường, bên trên đ/è mảnh bát vỡ và khoai lang.
Tiếp tục tích góp mảnh bát vỡ, dùng tay mò mẫm dưới đất, mò được những hòn đ/á nhỏ sắc nhọn cũng cất đi.
Tháo dây thừng thành từng sợi nhỏ, dùng nước bọt làm ướt, rồi bện thành một sợi dây chắc chắn hơn - bện suốt ba đêm, ngón tay run đến mức bện không nổi lại tháo ra bện lại, khi bện xong đầu dây đã thành một nút thắt số 8.
Mỗi lần bện dây đến mức chuột rút, tôi lại dừng lại, lấy miếng băng vệ sinh từ túi ẩn ra, trải lên đầu gối ngắm một lát.
Ánh trăng xuyên qua khe gỗ chiếu lên đó, vệt m/áu khô kia trông như một mặt trời thu nhỏ đã phai màu.
Tôi áp miếng băng vệ sinh lên ngựk, nhịp tim truyền qua lớp vỏ nhựa trở về lòng bàn tay - một cái, hai cái, ba cái.
Tôi vẫn còn sống.
-- * --
Có một ban ngày, sau khi Triệu Đức Hậu đưa cơm xong và rời đi, tôi lấy sợi dây thừng đã bện xong, tìm một mảnh gạch vụn ở khe tường làm vật nặng, chậm rãi thả xuống.
Sợi dây thả ra một đoạn dài mới chạm đến đáy hầm, ngón tay cầm đầu dây đo thử, ít nhất sâu hai mét, cao hơn tôi nửa cái đầu.
Ngước nhìn lên, nắp hầm chỉ to bằng đồng xu, ánh sáng lọt vào mảnh như một cây kim, không khí rất ngột ngạt nhưng vẫn có sự lưu thông, chứng tỏ khe nắp hầm không bị bịt kín hoàn toàn.
Tôi đo chiều rộng miệng hầm - khi ngước lên, dùng sợi dây so từ mép này sang mép kia, vừa đủ cho một người, chiều rộng tầm gấp đôi vai tôi.
Chỉ cần có thể leo lên và mở được nắp hầm khi Triệu Đức Hậu không có nhà, tôi có thể ra ngoài.
Để leo lên cần hai thứ: nắp hầm mở và không có ai ấn giữ tôi.
Để mở nắp hầm cần Triệu Đức Nghĩa giúp - nó có thể tranh thủ lúc Triệu Đức Hậu không có nhà để bẩy đ/ứt xích sắt, hoặc trực tiếp lật tấm ván ra.
Nhưng làm sao để nó chịu giúp tôi? C/ầu x/in trực tiếp chắc chắn nó sẽ không làm, vì giúp tôi đồng nghĩa với phản bội Triệu Đức Hậu, đợi anh nó về sẽ đá/nh ch*t nó.
Nhưng nếu nó tưởng tôi sắp ch*t thì sao?