Thứ bóng tối đó không phải là kiểu đưa tay không thấy năm ngón, mà là đến cả tay mình cũng không tìm thấy - tôi đưa tay lên trước mắt, ngón tay cách chóp mũi hai centimet mà chẳng thấy gì cả.
Tôi đưa bàn tay bị trói lên miệng, dùng răng cắn ch/ặt nút thắt, x/é suốt hai phút. Nút thắt rất ch/ặt, lúc răng cắn vào, sợi nylon trượt trên men răng. Không x/é nổi.
Sau đó tôi dựa vào tường trượt ngồi xuống, gáy áp vào mặt xi măng lạnh buốt. Cảm giác lạnh lẽo chạy dọc theo cột sống xuống dưới, dừng lại ở vị trí đ/ốt sống thắt lưng, tụ lại thành một mảng băng nhỏ ở đó.
Chương 4
Ngày thứ ba, cô y tá nhỏ mang cơm đến lúc đưa cốc nước, đầu ngón tay cô lướt qua ngón tay tôi.
Cô thu tay lại rất nhanh.
Nhưng dưới đáy cốc nước có thêm một mảnh giấy nhỏ gấp bằng đầu ngón tay cái.
Sau khi cô y tá đi rồi, cửa sắt "cạch" một tiếng đóng ch/ặt vào khung.
Tôi đợi đèn hành lang tắt mới quay lưng lại, mở mảnh giấy đó ra.
Mảnh giấy được x/é ra từ mép đơn th/uốc của nhà th/uốc, vẫn còn cạnh răng c/ưa.
Giấy đã rất cũ, chỗ nếp gấp đã mòn ra những sợi lông, giống như bị người ta nắm trong tay rất lâu rất lâu rồi.
Trên đó chỉ viết ba chữ: Anh là anh.
Dưới chữ "Anh" (thứ hai) có gạch hai gạch ngang, nét bút r/un r/ẩy, giống như lúc viết có người vỗ vai từ phía sau.
Phía dưới còn một dòng chữ nhỏ hơn, viết bằng bút chì: Em tìm anh trong số những người mang cơm mỗi ngày.
Chữ rất nhỏ, như sợ bị người khác nhìn thấy.
Vụn giấy rơi ra vài hạt khi tôi mở nó ra, bay vào trong bóng tối.
Tôi lật mặt sau mảnh giấy.
Mặt sau không có gì cả, nhưng chính giữa mảnh giấy có một vết nước nhỏ, mép nhăn nhúm - hẳn là nước đọng dưới đáy cốc thấm vào.
Hình dáng vết nước trông như một con mắt.
Ngày thứ tư, cô ấy lại đến mang cơm.
Dưới cửa sắt có một tấm chắn, bát cháo được đưa vào trước, sau đó là đĩa dưa muối.
Lúc cô ấy đặt khay xuống, miệng ghé sát vào khe hở của tấm chắn, môi gần như không động mà nói một câu:
"C17 là lấy từ người sống, đúng không?"
Giọng nói nén nhỏ hơn cả tiếng thở, nhưng hơi nóng từ khoang miệng cô ấy phả vào qua khe hở, mang theo mùi bạc hà của kẹo cao su.
Tôi nuốt ngụm cháo lạnh trong miệng.
Hạt cơm trên lưỡi chưa tan hết, cháo lạnh trôi qua cổ họng khiến tôi hơi buồn nôn.
Tôi nén giọng lại chỉ đủ để cô ấy nghe thấy, môi áp vào mặt kim loại lạnh lẽo của cửa sắt:
"Tủ mẫu vật tầng ba, ô thứ bảy từ trái sang. Ngày trên nhãn cách đây mười một tháng. Màu sắc nhạt hơn m/áu tĩnh mạch bình thường nửa tông. Mã kệ C-17."
Cô ấy cúi đầu, ấn thêm một mảnh giấy dưới đáy khay.
Lần này trên mảnh giấy ngoài tên của cô ấy - Lâm D/ao, khoa - Khoa Xét nghiệm, còn có một dòng chữ nhỏ:
"Anh trai tôi lúc đó ở cùng phòng b/ệnh."
Ngón tay cô ấy ấn hơi mạnh lên mảnh giấy, mặt sau mảnh giấy gồ lên.
Trước khi rời đi, tay cô ấy vuốt qua khung cửa, động tác rất tự nhiên, như đang kiểm tra xem cửa đã đóng ch/ặt chưa.
Nhưng đó là ám hiệu bình an chúng tôi đã hẹn từ đêm đầu tiên, cô ấy đã lặp lại mười một lần - mỗi lần chạm vào vị trí khác nhau trên khung cửa, tương ứng với thông tin khác nhau.
Ngày thứ năm, cô ấy mang cho tôi một cuộn băng dán y tế nhỏ và nửa mẩu bút chì.
Bút chì bị bẻ g/ãy, mặt c/ắt lộ ra lõi gỗ, ruột bút chỉ lộ ra một chút xíu.
Tất cả được bọc trong băng gạc nhét dưới đáy bát cháo, hơi ấm còn sót lại của cháo làm cuộn băng dán hơi mềm ra.
Từ đêm đầu tiên, tôi đã bắt đầu đếm bước chân của tên lính canh.
Tên lính canh đó đi đường chân trái nặng chân phải nhẹ, đế giày có một mảng da cứng m/a sát với mặt đất, như giấy nhám chà qua xi măng.
Tôi nhắm mắt lại, c/ắt âm thanh đó thành ba đoạn trong đầu:
Từ cuối hành lang đi đến trước cửa phòng tôi là bốn mươi mốt bước - bước thứ bốn mươi mốt đế giày phát ra tiếng "két", chắc là mảng da đó quẹt vào khe nối của sàn nhà;
Giữa lúc mở cửa và đóng cửa là ba tiếng thở - một tiếng hít vào, một tiếng thở ra, rồi hít thêm nửa tiếng nữa rồi nín thở;
Đi xa dần là bốn mươi ba bước, nhiều hơn lúc đến hai bước, vì lúc quay về hắn sẽ dừng lại ở góc rẽ một lúc.
Sau khi tiếng giấy nhám biến mất, tôi cắn đ/ứt một sợi vải từ gấu áo tù, thấm ướt trên đầu lưỡi rồi thắt thành một nút.
Từ ngày đó, cứ mỗi mười hai tiếng tôi lại x/é một đoạn vải, vò cho nhỏ như sợi chỉ, thắt nút rồi nhét vào lớp Iót cổ áo.
Mỗi nút thắt đều tương ứng với một đoạn bước chân và hơi thở, như một hàng chữ nổi, chỉ có ngón tay tôi mới đọc hiểu được.
Ngày thứ chín, tôi cần một bảng thời gian.
Tôi x/é hết các sợi vải từ cổ áo ra, tổng cộng mười bảy sợi.
Trong bóng tối, tôi dùng tay sờ qua, kích thước, khoảng cách, số vòng quấn của mỗi nút thắt đều không giống nhau.
Tôi xếp chúng trên nền xi măng, dùng ngón tay đọc từng sợi một, ghép lại trong đầu thành một bảng thời gian -
Từ hai giờ sáng đến bốn giờ sáng là vùng m/ù tuần tra, nhân viên bảo vệ ca đêm lúc đổi ca có khoảng ba phút rưỡi thời gian trống, trong ba phút rưỡi đó đèn hành lang tắt, khóa điện tử ngoài cửa sắt sẽ khởi động lại, trong thời gian khởi động lại, thẻ ra vào sẽ mất hiệu lực mười hai giây.