Trước khi đi về phía Bắc, Bùi Nghiễn Chu đặc biệt chuẩn bị cho tôi một chiếc xe ngựa rộng rãi hơn.
Lúc đầu tôi thấy phiền phức. Đường từ kinh thành đến biên giới phía Bắc rất xa, mang theo càng nhiều người, hành trình càng chậm. Bùi Nghiễn Chu lấy từ ngăn ẩn trong xe ra một chiếc lò sưởi tay bằng đồng, rồi lại lôi ra chăn cừu dày, hộp th/uốc, đồ đi mưa, thậm chí có cả một gói mứt quả tôi thích ăn.
“Những thứ này là ai chuẩn bị vậy?” Tôi hỏi.
“Thanh Vu liệt kê danh sách, ta nhìn rồi tự tay xếp vào.”
“Chàng là một tướng quân, quản những việc này làm gì?”
“Vì nàng sợ lạnh, say xe, lại không thích uống th/uốc đắng.”
Tôi nhất thời không nói nên lời.
Chàng đẩy hộp th/uốc lại gần hơn một chút, bên trong đặt những viên th/uốc thanh nhiệt Ôn đại phu đã phối sẵn.
“Còn nữa, nàng đọc sách lúc nào cũng quên giờ giấc, đêm đến đừng thắp đèn quá lâu.”
Tôi cố tình bới móc: “Bùi tướng quân trí nhớ tốt như vậy, quân báo có phải chỉ cần đọc qua một lần là thuộc không?”
Tai chàng đỏ ửng, giả vờ như không nghe thấy.
Ngày rời khỏi kinh thành, Đỗ phu nhân khoác lên người tôi chiếc áo lông cáo mới may, Bùi Chiêu Ninh nhét đầy một túi đồ ăn vặt, miệng nói sợ tôi đói trên đường, nhưng hốc mắt lại đỏ hoe.
“Tẩu tẩu, chị đến biên giới phía Bắc, đừng quên gửi cho em những hòn đ/á đẹp nhé.”
Tôi cười đáp ứng.
“Em ở kinh thành cũng đừng lười biếng. Mấy cuốn sổ sách cũ trong phòng kế toán, đợi chị về sẽ kiểm tra.”
“Biết rồi, bà quản gia.”
Đỗ phu nhân vỗ vỗ tay chúng tôi, không nói quá nhiều lời ly biệt. Bà chỉ dặn dò Bùi Nghiễn Chu, hành quân gấp rút cũng phải chăm sóc tôi, lại dặn tôi, trời lạnh đừng cố quá.
Xe ngựa đi được một quãng xa, tôi vén rèm nhìn lại, tấm biển hiệu Tướng quân phủ dần thu nhỏ lại thành một chấm đen nhỏ.
Lần rời kinh thành này, trong lòng tôi không hề h/oảng s/ợ.
Tôi biết, nơi đó có người đợi chúng ta về nhà. Người đang cưỡi ngựa ngoài xe kia, cũng sẽ bảo vệ tôi đi về phía trước.
Suốt dọc đường lên phía Bắc, phong cảnh từ những thành quách nhộn nhịp biến thành những vùng hoang dã trải dài.
Bùi Nghiễn Chu ban ngày hầu như đều cưỡi ngựa, chập tối hạ trại mới đến bên xe hỏi tôi có mệt không. Chàng không thích nói lời ngọt ngào, nhưng những việc trong tay lại tỉ mỉ đến mức quá đáng. Trước khi trời mưa, chàng sẽ đệm cao bánh xe; đi ngang qua trạm dịch, chàng sai người nấu một bát mì nóng; tôi tựa vào vách xe chợp mắt, chàng sẽ cho ngựa đi cực chậm, chỉ sợ tiếng vó ngựa đá/nh thức tôi.
Ngày thứ năm, chúng tôi dừng chân nghỉ ngơi ở một bãi sông.
Tôi xuống xe vận động gân cốt, đang giẫm lên một hòn đ/á tròn nhìn nước, sau lưng truyền đến tiếng vó ngựa dồn dập.
Hoắc Thanh dẫn theo vài người từ phía sau đuổi tới, thần sắc nghiêm trọng.
“Tướng quân, đường trạm phía trước bị lũ quét làm hỏng rồi. Nếu đi đường vòng, phải mất thêm hai ngày.”
Bùi Nghiễn Chu nhìn về phía tôi.
Tôi hỏi trước: “Đi đường vòng sẽ qua đâu?”
Hoắc Thanh trải bản đồ ra: “Sẽ qua trấn Bạch Sa. Trong trấn rồng rắn lẫn lộn, trước đó còn có một toán lính đào ngũ cư/ớp bóc thương đội.”
Bùi Nghiễn Chu lập tức nói: “Hạ trại tại chỗ, đợi công binh sửa đường.”
Tôi nhìn sắc trời, lắc đầu.
“Chúng ta mang theo nhu yếu phẩm của quân đội, dừng lại ở bãi sông ngược lại còn bắt mắt hơn. Trấn Bạch Sa tuy lo/ạn, nhưng huyện úy trấn thủ từng là bộ hạ cũ của cha chàng, chỉ cần đưa tin trước, chưa chắc đã không thể mượn đường.”
Hoắc Thanh hơi do dự: “Thiếu phu nhân, việc này quá mạo hiểm.”
“Cho nên ta không ngồi trong xe đợi người khác chọn thay mình.” Tôi chỉ vào ngã rẽ trên bản đồ, “Chúng ta chia làm hai đội. Xe chở nhu yếu phẩm đi đường lớn đã sửa, người đi nhẹ nhàng theo tướng quân vòng qua trấn Bạch Sa. Mang theo hộ vệ biết b/ắn cung, trước khi trời tối qua trấn, không ở lại qua đêm.”
Bùi Nghiễn Chu nhìn bản đồ, không lập tức biểu thái.
Tôi nói thêm một câu: “Nếu chàng thấy không ổn, cứ coi như ta chưa nói gì. Nhưng chàng đã đưa ta đi cùng, thì không nên coi ta là hành lý cần được giấu kỹ.”
Ánh mắt chàng rơi trên mặt tôi, một lúc sau, đưa tay chấm vào vị trí trấn Bạch Sa.
“Đi theo cách của phu nhân.”
Hoắc Thanh ôm quyền tuân lệnh.
Trấn Bạch Sa quả nhiên không yên ổn. Khi chúng tôi vào trấn, bên đường trong tửu quán có vài bàn người đeo đ/ao, ánh mắt dõi theo đoàn xe. Bùi Nghiễn Chu không giương cờ tướng quân, chỉ mặc kỵ trang màu sẫm bình thường, hộ vệ cũng tản ra xung quanh.
Tôi nhìn qua rèm xe thấy một lão bà b/án lê cứ nhìn mãi về phía ngã rẽ, dưới sạp hàng giấu một đôi ủng đàn ông.
“Dừng xe.” Tôi hạ giọng.
Bùi Nghiễn Chu ghìm ngựa lại gần: “Sao vậy?”
“Phía trước có người mai phục.”
“Nàng nhìn thấy sao?”
“Giỏ lê của lão bà đó toàn là lê mới rửa, nhưng đế giày lại dính bùn mới. Bà ta không phải người đi buôn.”
Ánh mắt Bùi Nghiễn Chu lập tức sắc bén. Chàng giơ tay, đoàn người lặng lẽ dừng lại.
Khoảnh khắc tiếp theo, từ trong ngõ nhỏ quả nhiên lao ra hơn mười gã đàn ông cầm đ/ao, kẻ cầm đầu hô lớn đòi giữ lại nữ quyến và hàng hóa trong xe.
Tôi siết ch/ặt rèm xe, không lên tiếng.
Bùi Nghiễn Chu chắn trước xe, động tác rút đ/ao sạch sẽ gọn gàng.
Hoắc Thanh dẫn người bao vây từ hai phía, không lâu sau đã kh/ống ch/ế được đám người đó. Huyện úy trấn Bạch Sa nghe tin chạy tới, nhận ra Bùi Nghiễn Chu, sợ hãi quỳ xuống liên tục tạ tội.
Kẻ cầm đầu quỳ trên mặt đất, miệng cứng nói chỉ là vì tiền.
Tôi lại chú ý đến một tấm quân bài treo bên hông hắn.
“L/ột ủng hắn ra.”
Hoắc Thanh ngẩn người, nhưng vẫn làm theo. Mắt cá chân phải của tên cư/ớp có một vết thương mới kết vảy, chính là dấu vết thường thấy khi đào ngũ trong quân đội do gai sắt để lại.
Bùi Nghiễn Chu ngồi xổm xuống, giọng lạnh như gió trên mặt sông.
“Doanh nào?”
Người kia cắn ch/ặt răng.
“Không nói cũng được.” Bùi Nghiễn Chu đứng dậy, “Đưa đến pháp ty trong quân. Đào ngũ, cư/ớp bóc, giả mạo thổ phỉ, đủ để ngươi khai hết những gì cần khai rồi.”