Dọc theo đường cao tốc, những ngọn đèn đường lùi lại phía sau từng cái một. Trong quầng sáng của mỗi ngọn đèn, cô dường như đều thấy một người phụ nữ mặc áo cưới đỏ lướt qua. Nhưng khi nhìn kỹ lại thì chẳng có gì cả.
Chỉ là bóng hình của gió biển.
Chỉ là ảo giác của màn đêm.
Nhưng trong lòng cô hiểu rõ, đó không phải ảo giác.
Lâm Tú Châu đã được giải thoát. Thế nhưng cái "vị trí" Hải Giá Nương này vẫn chưa biến mất. Nó giống như một chiếc ghế trống, rồi sẽ luôn có người ngồi lên đó. Còn cô, Thái Yến Mai, là người vừa ngồi lên lại bị kéo xuống—trên ghế vẫn còn lưu lại nhiệt độ cơ thể cô, mùi hương của cô, và cả… dấu ấn của cô.
“Thái Miêu.”
“Dạ?”
“Ông Trần Văn Bân nói, áo cưới trắng có thể thanh lọc oán khí của áo cưới đỏ.” Thái Yến Mai chậm rãi nói, “Nhưng ông ấy có nói sau khi thanh lọc xong sẽ thế nào không?”
Thái Miêu im lặng vài giây: “Ông ấy nói, tân nương được chọn sẽ được giải thoát.”
“Lâm Tú Châu đã được giải thoát.” Thái Yến Mai nói, “Còn chị thì sao?”
Thái Miêu không trả lời. Vì chính cậu cũng không biết.
Khi xe tiến vào địa phận Hạ Môn, đã gần một giờ sáng. Thái Miêu không về thẳng căn hộ thuê, mà rẽ sang một con đường khác—con đường dẫn đến một bất động sản khác của ông nội lúc sinh thời.
Đó là một ngôi nhà cũ nằm trong con hẻm gần đường Trung Sơn, những năm cuối đời ông nội thỉnh thoảng vẫn về đó ở. Thái Yến Mai đã đến vài lần lúc nhỏ, nhớ đó là căn nhà gạch đỏ hai tầng có giếng trời, kiểu kiến trúc "thủ cân liêu" điển hình của Mân Nam.
“Đến đó làm gì?” Thái Yến Mai hỏi.
“Nhật ký của ông nội có nhắc đến "món n/ợ của nhà họ Thái".” Thái Miêu nói, “Ngôi nhà cũ đó có lẽ vẫn còn giấu những thứ khác.”
Ngôi nhà cũ nằm sâu trong một con hẻm hẹp. Hẻm hẹp đến mức chỉ đủ cho một chiếc xe nhỏ đi qua, hai bên là những dãy nhà gạch đỏ liền kề, cửa sổ tầng hai gần như có thể bắt tay nhau qua hẻm. Xe không vào được, Thái Miêu đỗ xe ở đầu hẻm.
Hai người xuống xe. Trong hẻm yên tĩnh đến mức nghe thấy cả tiếng tim đ/ập. Ánh trăng bị những dãy nhà c/ắt thành từng mảnh, rắc lên mặt đường đ/á xanh.
Thái Miêu dùng chìa khóa dự phòng mở cửa ngôi nhà cũ.
Một luồng không khí cũ kỹ ập đến—mùi gỗ, mùi băng phiến, mùi sách cũ và bụi bặm hòa quyện vào nhau. Thái Yến Mai quá quen thuộc với mùi hương này, đây là mùi của ông nội, mùi của tuổi thơ, mùi của quê hương.
Cô bật đèn phòng khách. Bóng đèn vàng vọt đung đưa trên trần nhà, đổ xuống những cái bóng chao đảo.
Bên trong ngôi nhà vẫn giữ nguyên trạng thái như lần cuối ông nội còn sống. Bàn Bát Tiên, ghế Thái sư, kệ cổ vật, mọi thứ đều phủ một lớp bụi mỏng. Cuốn lịch trên tường dừng lại ở ba tháng trước—ngày ông nội qu/a đ/ời.
Thái Miêu đi thẳng tới bàn thờ ở chính giữa nhà. Trên bàn thờ cúng bài vị của tổ tiên nhà họ Thái qua các đời, tầng cao nhất là của cụ cố Thái Vĩnh Phúc—cũng chính là người đã đưa Lâm Tú Châu lên kiệu hoa.
Thái Yến Mai nhìn chằm chằm vào bài vị cụ cố, lồng ngựk nghẹn lại. Chính cái miếng gỗ này đại diện cho một kẻ tội đồ đã dìm một thiếu nữ sống xuống đáy biển. Vậy mà nó lại được thờ phụng ở chính giữa nhà, nhận sự quỳ lạy của con cháu.
“Thái Miêu, lấy bài vị của cụ cố xuống.” Cô nói.
Thái Miêu sững người một chút, nhưng vẫn bê ghế, nhón chân lấy bài vị từ trên bàn thờ xuống.
Phía sau bài vị dán một tờ giấy ố vàng.
Thái Miêu lật bài vị lại, lấy tờ giấy đó ra.
Đó là một tờ "Minh hôn thư".
Giống hệt loại văn bản nhìn thấy trong tiệm của Trần Văn Bân, được viết bằng bút lông trên giấy đỏ, nét chữ là của cụ cố Thái Vĩnh Phúc. Nhưng nội dung khiến đồng tử Thái Miêu co rút dữ dội.
“Chị, chị lại đây xem.”
Thái Yến Mai ghé lại gần. Dưới ánh đèn mờ ảo, cô đọc từng chữ một:
“Người lập minh hôn thư là Thái Vĩnh Phúc, thay mặt vo/ng nam Hoàng Văn Sơn cưới Lâm Tú Châu làm vợ.
Ngày sinh nữ: Giờ Dần, mùng 7 tháng 7 năm Canh Thìn.
Ngày sinh nam: Giờ Ngọ, mùng 5 tháng 5 năm Canh Thìn.
Ngày mùng 7 tháng 7 năm Canh Dần, thành lễ tại ngôi nhà đ/á bên bờ biển Đông Phố.
Sau khi lễ thành, nữ vì b/ệnh mà mất, táng dưới đáy biển, cùng nam thủy táng đồng huyệt.
Từ nay về sau mỗi dịp năm Canh Dần, Nhâm Dần, Giáp Dần, Bính Dần, Mậu Dần, nữ cần tìm một nữ tử cùng ngày sinh thay mình hầu hạ nam tử, cho đến khi đủ ba trăm năm, mới có thể thoát khỏi thủy tịch.
Người lập thư: Thái Vĩnh Phúc
Người làm chứng: Hoàng gia lão gia Hoàng Thế Vinh
Ngày mùng 7 tháng 7 năm Canh Dần”
Ngón tay Thái Yến Mai bắt đầu r/un r/ẩy.
“Ba trăm năm.” Cô lẩm bẩm, “Phải gả ba trăm lần.”
Sắc mặt Thái Miêu trắng bệch: “Vậy ra đây không phải vòng lặp hai mươi năm một lần… mà là ba trăm năm. Lâm Tú Châu cần tìm ba trăm người thế thân, mới có thể hoàn thành minh hôn này, thoát khỏi thủy tịch.”
“Mà cô ấy đã tìm được…”
Hai người nhìn nhau.
Sáu mươi năm, hai mươi năm một lần, ba lần. Cộng thêm chính Lâm Tú Châu, lẽ ra phải là bốn người phụ nữ. Nhưng Trần Văn Bân từng nói, khi cha ông làm bộ áo cưới giấy đó sáu mươi năm trước, ông đã dùng "bốn mươi chín tờ giấy đỏ".
Bốn mươi chín.
Không phải ba trăm, cũng không phải bốn.
Mà là bốn mươi chín.”