Tại tiệm đồ giấy Trần Ký, cụ Trần Văn Bân hơn chín mươi tuổi lấy ra một gói vải từ sau bàn thờ, trịnh trọng đặt vào tay Thái Miêu.
“Đây là thứ cha ta để lại.” Ông nói, “Về căn nguyên của… Hải Giá Nương.”
Trong gói vải là một cuộn lụa ố vàng, trên đó vẽ một bức họa bằng chu sa. Trung tâm bức họa là một người phụ nữ bị dây đỏ quấn quanh, đầu kia của sợi dây đỏ nối liền với một chiếc vò gốm dưới đáy biển. Trên vò gốm viết hai chữ “Hôn bộ”.
Ở mép cuộn lụa có một dòng chữ nhỏ:
“Căn nguyên của Hải Giá Nương, không nằm ở áo cưới giấy, không nằm ở ngôi nhà đ/á, mà nằm ở Hôn bộ dưới đáy biển. Hôn bộ một ngày chưa hủy, Hải Giá Nương một ngày chưa diệt. Pháp phá Hôn bộ: Cần nữ tử sinh ngày mùng 7 tháng 7, vào đêm đại triều sóc vọng, lặn xuống chỗ trầm quan, dùng bút chu sa bôi xóa tên mình trên Hôn bộ. Khi bôi xóa, cần niệm: “Con gái nhà họ Thái, hôm nay từ hôn. Chàng trai nhà họ Hoàng, ai nấy đầu th/ai. Lâm thị Tú Châu, mau mau siêu thăng.””
“Niệm xong ba câu này, Hôn bộ tự hủy, khế ước Hải Giá Nương từ đó giải trừ.”
Thái Miêu ghi nhớ từng chữ một, khi về đến Hạ Môn đã là đêm khuya.
Cậu đưa cuộn lụa cho Thái Yến Mai xem. Thái Yến Mai lặp đi lặp lại ba câu đó cho đến khi thuộc lòng.
“Nữ tử sinh ngày mùng 7 tháng 7.” Cô cười khổ, “Cụ cố tính toán quá chuẩn x/ác. Cốt lõi của toàn bộ kế hoạch, bắt buộc phải là chị. Thay bằng bất kỳ ai khác, dù là em, Thái Miêu, cũng đều vô hiệu.”
“Chị…” Giọng Thái Miêu nghẹn ngào.
“Đừng như vậy.” Thái Yến Mai an ủi em trai, “Đây là mệnh của chị. Nhưng từ hôm nay, chị không còn là kẻ bị động chờ ch*t nữa. Chị sẽ chủ động kết thúc nó.”
Cô đứng dậy, bước tới bên cửa sổ. Ngoài cửa sổ là cảnh đêm Hạ Môn, ánh đèn neon đổ bóng ngũ sắc xuống mặt biển.
Phía xa, đại dương đang thở trong bóng tối.
Bốn ngày.
Cô chỉ còn bốn ngày.
Ngày đầu tiên, Thái Yến Mai và Thái Miêu trở lại thôn Đông Phố, tìm thấy “Cô nương miếu” đó.
Ngôi miếu rất nhỏ, ẩn trong bụi rậm trên sườn đồi sau thôn, chỉ còn lại một nửa bức tường. Sau bức tường xếp ngay ngắn hơn mười tấm bia đ/á không chữ, trước mỗi tấm bia đều khắc một đóa hoa mai, nhụy hoa được điểm bằng chu sa màu đỏ thắm.
Thái Yến Mai tiến lại gần bia đ/á, ngồi xổm xuống. Cô đưa tay chạm vào bề mặt tấm bia ở chính giữa.
Ngay khoảnh khắc đầu ngón tay chạm vào bia đ/á, cô nghe thấy âm thanh.
Tiếng của rất nhiều người phụ nữ, chồng chéo lên nhau, vang lên trong tâm trí cô:
“Tôi họ Hoàng, sinh ngày mùng 7 tháng 7 năm Đinh Dậu…”
“Tôi họ Trần, sinh ngày mùng 7 tháng 7 năm Kỷ Mùi…”
“Tôi họ Hà, sinh ngày mùng 7 tháng 7 năm Tân Tỵ…”
“Tôi họ Lâm, sinh ngày mùng 7 tháng 7 năm Canh Thìn…”
Từng cái tên, từng ngày sinh. Tất cả đều là những nữ tử sinh ngày mùng 7 tháng 7. Tất cả đều là những “tân nương” bị h/iến t/ế.
Nước mắt Thái Yến Mai rơi trên bia đ/á. Nước mắt thấm vào khe đ/á, chu sa trên nhụy hoa như sống lại, phát ra ánh sáng đỏ thẫm.
“Họ đều ở đây.” Cô khẽ nói, “Bốn mươi chín người con gái. Bài vị của họ, “áo cưới” của họ—không phải quần áo, mà là tóc, móng tay, giày thêu, thậm chí có cả một đoạn xươ/ng chân nhỏ—đều ch/ôn dưới những tấm bia này.”
Thái Miêu đứng sau lưng cô, sắc mặt nghiêm trọng: “Vậy nên bộ áo cưới giấy trong ngôi nhà đ/á kia là do oán khí của bốn mươi chín người con gái ngưng tụ thành. Cứ mỗi hai mươi năm, oán khí của một trong số họ mạnh nhất, sẽ trở thành hóa thân của “Hải Giá Nương”, đi tìm thế thân tiếp theo.”
“Lâm Tú Châu là người đầu tiên thực sự trầm biển.” Thái Yến Mai nói, “Nên cô ấy là “chủ oán”, bốn mươi tám người kia là “tòng oán”. Áo cưới trắng đã thanh lọc chủ oán, nhưng bốn mươi tám tòng oán vẫn còn trên Hôn bộ. Muốn giải trừ triệt để, bắt buộc phải hủy Hôn bộ.”
Cô đứng dậy, nhìn quanh ngôi miếu nhỏ bé này.
Miếu tuy đổ nát, nhưng dấu vết hương hỏa vẫn còn. Trên mặt đất trước bia đ/á, vương vãi vài nén nhang nến đã ch/áy hết, còn có cả trái cây tươi—rõ ràng là gần đây có người đến cúng bái.
“Trong thôn vẫn còn người nhớ đến họ.” Thái Miêu nói.
“Nhớ, nhưng không dám nói.” Thái Yến Mai nhớ lại bà lão đêm hôm đó, bà đã nhận ra Lâm Tú Châu nhưng lại ngập ngừng không nói. “Trong tục minh hôn ở Mân Nam, “cưới q/uỷ nữ” là để vo/ng h/ồn nữ tử yểu mệnh có người thờ cúng, không quay về nhà mẹ đẻ quấy phá. Đây là một loại… giam cầm thiện ý bị vặn vẹo.”
Cô nhớ lại một bài luận văn từng đọc trên mạng nghiên c/ứu phụ nữ Trung Quốc, trong đó phân tích chi tiết địa vị yếu thế của phụ nữ trong tục cưới xin Mân Nam—góa phụ tái giá phải nhảy qua lửa, trong minh hôn “ôm bài vị bái đường” chỉ cho phép nam giới tái giá chứ không cho phép nữ giới. Những hủ tục này phản chiếu bi kịch phụ nữ bị vật hóa, bị h/iến t/ế suốt hàng trăm năm qua.
Lâm Tú Châu và bốn mươi tám người con gái kia chính là hiện thân cực đoan của bi kịch này.
“Đi thôi.” Thái Yến Mai nói, “Chúng ta còn ba ngày nữa.”
Ngày thứ hai, Thái Yến Mai đến trung tâm huấn luyện lặn ở Hạ Môn, làm quen lại với trang thiết bị lặn.
Ba năm rồi không lặn, kỹ thuật của cô có chút xa lạ.