Người đàn ông gặp nạn trên biển sáu mươi năm trước. Chú rể của cuộc minh hôn.
Linh h/ồn của hắn, đến tận bây giờ vẫn đang chờ đợi "tân nương" của mình ở dưới âm phủ.
Lâm Tú Châu đã trầm mình xuống biển, nhưng Hoàng Văn Sơn chưa từng "cưới" được nàng. Bởi vì Lâm Tú Châu bị ép buộc, cuộc minh hôn đó không có hiệu lực.
Mà món n/ợ nhà họ Thái gánh chịu, không chỉ là mạng sống của Lâm Tú Châu, mà còn là lời hứa "âm hôn" với Hoàng Văn Sơn.
Để giải trừ triệt để, bắt buộc phải có người nhập vào âm phủ, tìm linh h/ồn của Hoàng Văn Sơn, khiến hắn đích thân nói ra câu "Ta từ hôn".
Mà người có thể nhập vào âm phủ, bắt buộc phải mang trên mình dấu ấn của "Âm khế".
Thái Yến Mai có.
Cô chính là "người trả n/ợ" đó.
“Chị đi.” Cô nói.
“Chị, không được!” Thái Miêu gần như gào lên, “Nhập âm phủ chính là ch*t! Chị vừa mới từ dưới đáy biển trở về!”
“Nhưng chị đã từng ch*t một lần rồi.” Thái Yến Mai bình tĩnh nói, “Khoảnh khắc chị mặc bộ áo cưới trắng lên người, khoảnh khắc chị lặn xuống đáy biển hủy đi Hôn bộ, chị đã vượt qua ranh giới giữa sự sống và cái ch*t. Bây giờ chị không hoàn toàn là người sống, cũng chẳng hoàn toàn là người ch*t. Chị là “người ở giữa”. Chỉ có “người ở giữa” mới có thể nhập vào âm phủ, rồi lại quay về dương gian.”
Cô nhìn Thái Miêu, ánh mắt dịu dàng mà kiên định: “Em trai, lần này, để chị bảo vệ em.”
Nước mắt Thái Miêu trào ra.
Suốt một tháng sau đó, Thái Yến Mai đã chuẩn bị rất nhiều thứ.
Cô tra c/ứu tất cả tài liệu có thể tìm thấy về nghi lễ “quá âm” ở Mân Nam. Trong dân gian Mân Nam, có một loại nữ tế ti gọi là “Ưởng di”, có thể giao tiếp với vo/ng h/ồn, thậm chí thâm nhập vào âm phủ trong thời gian ngắn. “Đả thành thỉnh linh” là một kh//âu quan trọng trong nghi lễ minh hôn, do pháp sư thực hiện để “dẫn vo/ng h/ồn” cho gia đình.
Cô tìm thấy một bà lão Ưởng di ẩn cư ở vùng quê Chương Châu, đã hơn chín mươi tuổi, là người “quá âm nhân” chân chính cuối cùng của vùng Mân Nam.
Bà lão nghe xong ý định của cô, im lặng suốt một canh giờ.
Cuối cùng, bà gật đầu: “Ta giúp con. Nhưng con phải biết, “quá âm” không phải trò đùa. Linh h/ồn con rời khỏi thể x/ác quá lâu, có thể sẽ không quay về được nữa.”
“Cháu hiểu.” Thái Yến Mai nói.
“Hơn nữa,” bà lão hạ thấp giọng, “linh h/ồn của Hoàng Văn Sơn chưa chắc đã muốn từ hôn. Sáu mươi năm qua, hắn vẫn luôn đợi tân nương của mình. Nếu con đi bắt hắn từ hôn, hắn có thể sẽ… không thả con về.”
“Cháu không sợ.”
Bà lão nhìn cô thật sâu, rồi bắt đầu chuẩn bị những vật phẩm cần thiết cho nghi lễ:
Bảy ngọn đèn dầu (đại diện cho bảy bảy bốn mươi chín ngày).
Một bát nước gạo nếp (để thanh tẩy).
Một chiếc gương đồng (để soi đường âm phủ).
Một thanh ki/ếm gỗ đào (để hộ thân).
Một chuỗi tràng hạt (do cụ Trần Văn Bân cung cấp, là vật cụ dùng để tụng kinh lúc sinh thời).
Quan trọng nhất là—một lá “Quá âm phù”, do chính tay bà lão vẽ, dùng m/áu của Thái Yến Mai làm chất hòa tan chu sa.
Khoảnh khắc lá “Quá âm phù” hoàn thành, m/áu của Thái Yến Mai nhỏ vào lá bùa, lá bùa tức thì tỏa ra ánh sáng đỏ rực.
“Đêm Trung thu, khi trăng tròn,” bà lão nói, “trong ngôi nhà đ/á, thắp bảy ngọn đèn dầu, bày thành hình Bắc Đẩu Thất Tinh. Con ngồi giữa trận pháp, tay nắm Quá âm phù, tụng “Độ vo/ng kinh”. Linh h/ồn con sẽ thoát khỏi thể x/ác, tiến vào âm phủ.”
“Cháu có thể ở lại âm phủ bao lâu?”
“Thời gian một ngọn đèn dầu ch/áy hết. Khoảng một canh giờ.” Bà lão nói, “trong vòng một canh giờ, con bắt buộc phải tìm thấy Hoàng Văn Sơn, khiến hắn từ hôn, rồi quay về dương gian. Nếu không, linh h/ồn con sẽ vĩnh viễn bị giam cầm ở âm phủ, thể x/ác sẽ ch*t.”
“Nếu Hoàng Văn Sơn không chịu từ hôn thì sao ạ?”
Bà lão im lặng.
“Vậy thì dùng cái này.” Bà đưa cho Thái Yến Mai một chiếc gương đồng nhỏ, “Đây là “Chiếu h/ồn kính”. Linh h/ồn Hoàng Văn Sơn ký thác vào “Hôn thư” ở âm phủ. Con dùng Chiếu h/ồn kính nhắm vào Hôn thư, tụng: “Con gái nhà họ Thái, thay Lâm Tú Châu từ hôn. Chàng trai nhà họ Hoàng, mau mau thả người.” Hôn thư tự hủy, âm khế giải trừ.”
“Nhưng Hoàng Văn Sơn có thể sẽ phản kháng.”
“Con phải chuẩn bị tâm lý.” Bà lão nói, “Tiến vào âm phủ, đối mặt với một chú rể đã đợi suốt sáu mươi năm…”
Bà không nói hết câu.
Ngày 15 tháng 8 âm lịch. Đêm Trung thu. Trăng tròn.
Thái Yến Mai một mình đến ngôi nhà đ/á bên bờ biển Đông Phố.
Ngôi nhà đã được cô dọn dẹp qua. Bàn Bát Tiên đặt ở trung tâm, bảy ngọn đèn dầu đặt trên bàn, bày thành hình Bắc Đẩu Thất Tinh. Mỗi ngọn đèn đều đổ đầy dầu thơm, bấc đèn được ngâm bằng xạ hương, có thể ch/áy một canh giờ không tắt.
Trên bàn còn đặt nước gạo nếp, gương đồng, ki/ếm gỗ đào, tràng hạt và lá Quá âm phù đó.
Thái Miêu vốn kiên quyết muốn đi cùng, nhưng Thái Yến Mai từ chối.
“Em bắt buộc phải canh giữ ở bên ngoài.” Cô nói, “Nếu sau một canh giờ chị vẫn chưa tỉnh lại, em hãy phá hủy ngôi nhà này ngay lập tức, dùng lửa đ/ốt ch/áy tất cả. Sau đó mang nhật ký của ông nội rời khỏi Thạch Sư, vĩnh viễn không bao giờ quay lại nữa.”
“Chị…”