“Nhắn với đứa trẻ ấy--đợi khi nó lớn lên, đừng h/ận biển cả. Biển không phải là kẻ th/ù. Biển chỉ là… sự cô đơn.”
Cô ta nhảy vọt ra ngoài, biến mất vào màn đêm. Thái Miêu lao ra ban công nhìn xuống. Dưới lầu không một bóng người. Chỉ có một vũng nước trên mặt đất, chứng minh mọi chuyện vừa xảy ra không phải là ảo giác. Cậu quay lại phòng khách, bế Vọng Hải lên, ôm ch/ặt vào lòng.
“Ba… sợ…” Vọng Hải bị cậu ôm ch/ặt nên hơi khó chịu, cựa quậy nói.
“Xin lỗi con, cục cưng. Ba không cố ý đâu.” Thái Miêu nới lỏng vòng tay, nhìn gương mặt nó, “Tại sao lúc nãy con lại gọi người dì đó là ‘mẹ’?”
Vọng Hải nghiêng đầu suy nghĩ một lát rồi nói: “Cô ấy… giống mẹ.”
Sống mũi Thái Miêu cay xè. Cậu nhớ lại câu nói của Thái Yến Mai ở thế giới song song trước khi rời đi--“Nhắn với đứa trẻ ấy, đợi khi nó lớn lên, đừng h/ận biển cả.”
Cậu ôm Vọng Hải ngồi trên ghế sofa, hồi lâu không cử động. Ngoài cửa sổ, vầng trăng ló dạng sau những tầng mây, rải xuống một lớp ánh bạc. Trên mặt biển, có một chiếc đèn lồng đỏ đang chậm rãi trôi về phía xa. Đó là chiếc đèn lồng của Lâm Tú Châu. Cũng là của Thái Yến Mai. Và cũng là--chiếc đèn lồng của tất cả những linh h/ồn bị biển cả trói buộc.
Chúng đều ở đó. Trên biển. Dưới ánh trăng. Trong sự tĩnh lặng vĩnh hằng.
Thái Miêu cúi đầu nhìn Vọng Hải trong lòng. Thằng bé đã ngủ thiếp đi, hơi thở đều đặn, khóe miệng treo một nụ cười.
“Vọng Hải,” cậu khẽ gọi, “Đợi con lớn lên, ba sẽ kể cho con nghe tất cả về biển cả. Về mẹ của con. Về tất cả những linh h/ồn bị biển cả trói buộc.”
“Con sẽ biết thôi--biển cả không phải kẻ th/ù. Biển chỉ là sự cô đơn.”
“Còn chúng ta, là những đứa con của nó.”
Áo Cưới Giấy 23: Thạch Sư Q/uỷ Gả
Thái Miêu phát hiện ra viên gạch dưới chân bàn thờ trong nhà bị lỏng vào năm Vọng Hải bảy tuổi. Đó là ngày 22 tháng 3 âm lịch, một ngày trước lễ đản sinh của Mẫu Tổ. Người Mân Nam có quy tắc không ra khơi trong ba ngày quanh lễ “Mẫu Tổ sinh”, ngư dân Đông Phố đã neo đậu tàu thuyền từ hai ngày trước, mỗi nhà đều bày bàn thờ trước cửa, đ/ốt hương hướng về phía biển. Thái Miêu tuy không tin vào những điều này, nhưng bà Lý A Muội năm nào cũng đến Hạ Môn ở vài ngày, giúp cậu trông nom Vọng Hải, tiện thể bày một bàn thờ nhỏ trên ban công, bái lạy hướng Đông Nam. Bà bảo đây là điều Thái Yến Mai đã dặn dò trước khi qu/a đ/ời--“Lễ đản sinh Mẫu Tổ, Vọng Hải nên nhận mặt Hải thần.”
Vọng Hải bảy tuổi là một đứa trẻ tĩnh lặng đến lạ thường. Nó học lớp một tại trường tiểu học thực nghiệm Hạ Môn, thành tích trung bình, không có nhiều bạn bè nhưng cũng không hề cô đ/ộc. Các giáo viên nói nó “quá trầm ổn”, không giống dáng vẻ của một đứa trẻ lên bảy. Thái Miêu biết lý do tại sao--nhịp tim của Vọng Hải vẫn là 60 lần mỗi phút như người trưởng thành, thân nhiệt thấp hơn người bình thường nửa độ, nó không bao giờ sốt, không bao giờ cảm lạnh, những ngày mưa nó thậm chí không muốn che ô, bảo rằng “mưa rất ngọt”.
Điều khiến Thái Miêu bất an nhất chính là sự chấp niệm của Vọng Hải với nước. Trong bồn tắm ở nhà, Vọng Hải có thể ngâm mình một mình suốt hai tiếng đồng hồ, nhắm mắt, không động đậy, như thể đang đối thoại với thứ gì đó. Có lần Thái Miêu thức dậy uống nước vào nửa đêm, đi ngang qua phòng tắm thì nghe thấy tiếng nước--là Vọng Hải, thằng bé tự bò dậy ngâm mình vào nửa đêm, đôi mắt mở to trong làn nước, đồng tử phản chiếu ánh đèn sưởi, tựa như hai vầng trăng nhỏ.
“Vọng Hải?” Thái Miêu gọi nó.
Vọng Hải quay đầu, mỉm cười với cậu: “Ba, con đang nghe biển nói chuyện.”
Sống lưng Thái Miêu chạy dọc một luồng ớn lạnh. “Biển… nói chuyện?”
“Dạ.” Vọng Hải gật đầu nghiêm túc, “Trong biển có một người dì, ngày nào cũng nói chuyện với con. Dì ấy bảo dì ấy là mẹ.”
Cổ họng Thái Miêu thắt lại. Cậu ngồi xổm xuống, nắm lấy bàn tay nhỏ của Vọng Hải: “Vọng Hải, mẹ đã… đi đến một nơi rất xa rồi. Mẹ không thể nói chuyện được nữa đâu.”
Vọng Hải nghiêng đầu nhìn cậu, trong ánh mắt có một sự sáng suốt vượt xa tuổi tác: “Ba, mẹ không ch*t. Mẹ ở trong biển. Chỉ là mẹ không thể lên bờ thôi.”
Thái Miêu không biết phải đáp lại thế nào. Cậu chỉ có thể bế Vọng Hải ra khỏi bồn tắm, quấn khăn rồi đưa thằng bé về giường. Đêm đó, cậu mất ngủ. Cậu ngồi trên ghế sofa trong phòng khách, nhìn bàn thờ nhỏ trên ban công. Trên bàn thờ bày tượng Mẫu Tổ--do bà Lý A Muội mang đến năm ngoái, tượng gỗ mạ vàng, Mẫu Tổ khoác áo đỏ, gương mặt từ bi. Trước tượng thắp một ngọn đèn dầu nhỏ, ngọn lửa lay động nhẹ trong gió đêm.
Ánh mắt Thái Miêu rơi vào khám thờ phía dưới bàn thờ. Đó là thứ mà bà Lý A Muội nhất quyết bắt cậu bày ra khi chuyển đến căn nhà này--“Thái Yến Mai dặn, bên cạnh Vọng Hải không thể thiếu Mẫu Tổ dõi theo.” Trong khám thờ đặt hai tấm bài vị: một là của Thái Yến Mai, một là của cha mẹ Thái Miêu. Trước bài vị luôn có một chén trà thanh tịnh, mỗi ngày đều thay mới. Khám thờ được khảm vào tường, bên ngoài có một cánh cửa gỗ nhỏ, trên cửa khắc hình hoa sen. Thái Miêu trước đây chưa bao giờ mở cánh cửa này--bà Lý A Muội bảo, những thứ trong khám thờ, người sống không nên tùy tiện động vào.