Khi bàn cờ bị đẩy ra, các quân cờ rơi vãi khắp sàn, một con "Mã" lăn vào dưới gầm tủ, ông ấy cũng chẳng buồn nhặt.
Trong phòng, gạt tàn đã đầy ắp đầu lọc th/uốc, trên tường dán đầy những tờ lịch cũ đã ố vàng, người phụ nữ trên lịch uốn mái tóc kiểu cũ, đôi môi đỏ đã phai thành màu hồng nhạt.
Căn phòng nồng mùi th/uốc lào trộn lẫn với báo cũ.
Ông ấy lôi ra một cuốn sổ cũ nát, bìa bằng nhựa xanh, các góc đã mòn trắng, lật từ đầu đến cuối để tìm.
Ngón tay ông dừng lại ở một cái tên: "Ông bác sĩ chân đất từng khám b/ệnh cho nhà họ Trần vẫn còn sống, đã chuyển sang huyện bên cạnh rồi, họ Mạnh."
Ông ấy chép địa chỉ cho tôi, chữ viết rất to, như đang vẽ bùa trong đĩa, bút bi mực không đều nên có vài nét bị đ/ứt đoạn.
Chép xong ông lại châm một điếu th/uốc, đầu th/uốc ch/áy đến tận tay mới r/un r/ẩy vứt đi, lầm bầm một câu: "Để người ta biết là tôi nói, thì cái mặt già này của tôi cũng chẳng biết giấu vào đâu nữa".
Tôi đón lấy mẩu giấy, mép giấy đã bị mồ hôi tay ông làm ướt một chút.
-- *
Tôi ngồi xe hai tiếng rưỡi để đi tìm bác sĩ Mạnh.
Trên bọc ghế xe khách có một lỗ thủng do tàn th/uốc đ/ốt, lộ ra lớp mút xốp vàng bên dưới.
Ông ấy mở một phòng khám nhỏ ở rìa huyện, mặt tiền hẹp, bước vào là mùi thảo dược, vị đắng thoang thoảng chút ngọt.
Ông đeo kính lão đếm th/uốc viên, ngón tay rất vững, từng viên từng viên được gắp từ trong lọ ra bỏ vào túi giấy.
Ngước lên nhìn tôi một cái, hỏi tôi bị b/ệnh gì, tôi nói tôi không khám b/ệnh, mà hỏi về chuyện của Trần Tiểu Dư hai mươi năm trước.
Chiếc thìa th/uốc trong tay ông rơi xuống mặt tủ, "bộp" một tiếng.
Chiếc thìa inox nảy lên trên mặt tủ kính rồi lăn xuống đất, ông cũng không nhặt.
Ông tựa người vào lưng ghế, tháo kính ra chậm rãi lau, lau mãi mà chẳng mở lời.
Khăn lau kính là một miếng vải nhung màu xám, gấp vuông vức, ông lật qua lật lại lau, mặt kính đã lau đến mức soi được cả bóng người mà ông vẫn cứ lau.
Tôi đứng im không động đậy, con chó bị buộc ngoài cửa, nó ủ ê kêu gừ gừ sau cửa kính, lấy móng vuốt cào cào vào mặt kính.
Đột nhiên ông đứng dậy, đi đến trước tủ th/uốc, rút chìa khóa ra, khóa cửa tủ lại--rồi lại mở ra--rồi lại khóa lại.
Ổ khóa kêu lạch cạch hai lần, ông mới ngồi xuống, rót hai cốc nước, một cốc đẩy về phía tôi, một cốc ông tự nắm trong tay.
Nước trong cốc tráng men bị ông nắm đến mức sóng sánh tràn ra, đổ lên mặt tủ.
Câu đầu tiên ông nói không phải là lời khai tôi tưởng tượng, mà là: "Hai mươi năm nay, năm nào tôi cũng mơ thấy đứa trẻ đó đến lấy th/uốc, chân trần đứng giữa trời tuyết."
Nói xong ông cụp mi mắt, im lặng một hồi lâu.
Ông đẩy bảy tám lọ th/uốc trên bàn ra chỗ khác, đáy lọ vạch trên mặt tủ kính mấy vết trắng.
Sau đó ông mới nói: "Vết thương trên người đứa trẻ đó, không thể nào là do ngã được."
Giọng rất bình thản, như đang đọc đơn th/uốc, nhưng từng chữ đều giáng mạnh vào tim tôi.
Tôi lùi lại nửa bước, bắp chân va vào mép giường khám b/ệnh, khung giường sắt kêu "cạch" một tiếng.
Tôi mò trong túi ra chiếc bút ghi âm, ông đặt tay lên cổ tay tôi, đ/è lại.
Bàn tay ông g/ầy guộc, các khớp xươ/ng to, da trên ngón tay thô ráp như giấy nhám.
Ông nhìn tôi, thở dài: "Cô bé này, giống hệt bố nó ngày xưa đến c/ầu x/in tôi khám vết thương cho Tiểu Dư--bố nó cầu tôi đừng nói ra ngoài, tôi đã giữ kín, chuyện này đ/è nặng lên lòng tôi suốt hai mươi năm."
Rồi ông ngồi xuống, bỏ tay ra, coi như mặc định.
Tôi ấn nút ghi âm, nhẹ nhàng đẩy chiếc bút ghi âm về phía tay ông.
Ông nhìn một cái, không ngăn cản nữa.
Chiếc bút ghi âm rung nhẹ trên mặt tủ, phát ra tiếng vo ve nhỏ xíu.
Ông bắt đầu kể: "Thằng bé Tiểu Dư đó đến khám mấy lần. Vết bỏng, vết bầm tím, có lần sau tai còn bị rá/ch. Mẹ chồng nó bảo là ngã, nhưng tôi thấy không giống."
Giọng vị bác sĩ già như xuyên qua đáy chiếc bô cũ, trầm đục nhưng từng câu từng chữ đều là sự thật.
Vừa nói ông vừa dùng ngón tay vẽ những vòng tròn trên mặt tủ, vòng tròn càng lúc càng nhỏ, cuối cùng dừng lại ở một chấm nhỏ bằng đầu ngón tay.
Ông còn nói: "Mẹ chồng nó năm nào đến ngày giỗ đứa trẻ cũng ra đầu ngõ đ/ốt giấy, đ/ốt suốt hai mươi năm. Có năm tuyết rơi dày đặc, bà ta ngồi xổm trên tuyết, từng tờ từng tờ bỏ vào đống lửa, vừa bỏ vừa gào: 'Mẹ có lỗi với con...', gào đến khản cả cổ, rồi lấy tuyết vùi đống lửa đi."
Ông lão nói đến đây thì dừng lại một chút, tháo kính ra day day hốc mắt.
Trên trần nhà treo một chiếc quạt trần kiểu cũ, cánh quạt không quay, bám một lớp bụi dày.
Đèn đỏ trên bút ghi âm chớp tắt liên hồi, tôi nhìn chằm chằm vào đốm sáng đó, đốm sáng rất nhỏ nhưng trong phòng khám tối tăm lại vô cùng chói mắt.
Sống mũi cay xè.
Tôi cố hết sức nhịn, không phát ra tiếng, lấy mu bàn tay ấn mạnh lên mũi, nước mắt vẫn rơi xuống vỏ chiếc bút ghi âm, "tách" một tiếng, tôi vội vàng dùng ngón tay quệt đi.
Khi ngón tay quệt qua để lại một vệt nước, làm nhòe cả ánh đèn đỏ đang nhấp nháy.
Vị bác sĩ già nói xong liền đứng dậy, quay lưng đi, từ tầng trên cùng của tủ th/uốc rút ra một chiếc hộp sắt.