Chiếc hộp sắt đã rỉ sét, họa tiết trên nắp vốn là gì thì đã bị rỉ ăn mòn hết, không nhìn rõ nữa.
Mở hộp ra, bên trong nhét lộn xộn mấy tờ phiếu đăng ký khám b/ệnh cũ, mép giấy đã sờn, ố vàng và giòn rụm.
Khi đẩy chiếc hộp qua, tay ông khựng lại, gõ lên nắp hộp sắt hai cái, nói nhỏ: "Thứ này cho cô đấy, đừng nói là tôi lấy ra".
Sau đó ông xua xua tay: "Mấy thứ này để dưới đáy hộp th/uốc cũ bao nhiêu năm rồi, chuyển nhà mấy lần cũng không nỡ vứt, trong lòng cứ thấy như đang mắc n/ợ chuyện gì đó. Cô cầm lấy đi."
Tôi đón lấy hộp sắt, đầu ngón tay chạm vào mu bàn tay ông, lạnh ngắt.
Đáy hộp sắt có một lớp bột rỉ mỏng, dính vào lòng bàn tay tôi.
Tôi cầm chiếc hộp sắt đó ra cửa, bên ngoài nắng trắng xóa, con chó nóng đến mức thè lưỡi, đầu lưỡi nhỏ xuống những giọt nước dãi.
Tôi ngồi xổm xuống ôm nó, vùi mặt vào lớp lông trên cổ nó, lông cọ vào má nhồn nhột, tôi vùi mặt ở đó rất lâu.
Lông trên cổ con chó có mùi nắng, giống như mùi chăn màn vừa phơi xong.
Nó không động đậy, cứ để mặc tôi ôm, cái đuôi dán sát trên mặt đất khẽ vẫy vẫy.
-- *
Trở về căn nhà thuê thì trời đã tối.
Tôi trích xuất file ghi âm từ bút ghi âm ra, bày lên bàn học cũ cuốn sổ địa chỉ chép tay rá/ch nát mà ông Tôn đưa, xấp phiếu khám b/ệnh, tờ giấy ch/áy dở, ảnh chụp báo cáo khám nghiệm t/.ử th/i trong điện thoại--bày đầy một bàn.
Trên bàn không có thứ gì khác, chỉ toàn là mảnh vỡ của tháng Bảy năm đó, của đứa trẻ đó.
Bóng đèn bàn công suất không cao, chiếu xuống mặt bàn vàng vọt, cái bóng kéo dài dằng dặc.
Con chó nhảy lên chiếc ghế bên cạnh, cuộn tròn lại nhìn chằm chằm vào tôi.
Khi dọn dẹp căn phòng, con chó lôi từ dưới gầm giường ra một mẩu giấy vụn, mép giấy ch/áy sém vàng--là một góc bên trong bìa album, trên đó còn sót lại nửa chữ "Dư".
Tôi không nhớ nó rơi ra từ lúc nào, có lẽ là lúc chuyển nhà, nó bị kẹp trong kẽ hành lý nên bị con chó lôi ra.
Tôi ép mảnh giấy vào trong cuốn sổ, để cùng với những bằng chứng kia.
Có mấy đêm tôi không sao chợp mắt nổi, cứ bật đèn bàn nhỏ, viết hai chữ "Trần Tiểu Dư" vào sổ tay, viết ba lần, rồi dùng bút gạch mạnh tay, gạch đến mức ngòi bút xuyên thủng cả giấy.
Chữ trên giấy hằn xuống trang sau, trang sau lại hằn xuống trang tiếp theo.
Con chó nhảy lên bàn, móng vuốt dẫm lên nắp bút, tôi đẩy nó ra, nó lại sán lại gần, cái đuôi quét đổ lọ nước trên bàn.
Nước đổ ra chảy tràn qua mép bàn, nhỏ xuống đất kêu lạch cạch, tôi chẳng buồn lau.
Trong bản ghi âm, giọng bác sĩ già rất bình tĩnh, nhưng câu "Mẹ có lỗi với con" cứ chui vào tai tôi, ngay cả lúc ngủ cũng nghe thấy.
Cây vông đồng ngoài cửa sổ bị gió thổi xào xạc, lá cây đ/ập vào mặt kính như có người đang khẽ gõ cửa bên ngoài.
Đêm đến nằm trên giường, tôi lần lượt tua lại trong đầu hình ảnh mẹ chồng đ/ốt giấy, chiếc cốc tráng men bị mẻ, chiếc quần bị mòn rá/ch đầu gối của bà khi quỳ dưới đất.
Bà không phải là người không có lương tâm--bà chỉ sợ lương tâm lộ ra ánh sáng, thì chính bà cũng không sống nổi nữa.
Tôi viết câu này vào sổ tay, viết xong nhìn chằm chằm nửa phút.
Sau đó lật sang trang mới, vẽ một sơ đồ đơn giản--một vòng tròn ở giữa viết "Tiểu Dư"; vòng tròn bên cạnh là "Trần Dư"; vòng tròn bên cạnh nữa là "Trần San"; bên dưới là "Mẹ chồng".
Giữa các vòng tròn vẽ những đường kẻ, ở giữa các đường kẻ vẽ một dấu chấm hỏi thật to.
Bên cạnh vòng tròn của mẹ chồng, tôi dùng bút đỏ viết một dòng: "Đến ngày giỗ, bà phải thừa nhận trước mặt tất cả mọi người."
Sau đó đóng sổ lại, kéo ngăn kéo lấy chiếc USB vỏ bạc cũ kỹ ra, cắm vào máy tính, bắt đầu kiểm tra lại thời lượng và sao lưu file ghi âm.
Tôi dùng bút vẽ một dòng thời gian trên giấy--năm Tiểu Dư ch*t, Trần Dư bảy tuổi, sau khi sự việc xảy ra, rốt cuộc mỗi người trong số họ đã để lại dấu vết gì.
Trên dòng thời gian vẽ mấy điểm mốc, bên cạnh mỗi điểm đều chú thích bằng chữ nhỏ: Đuối nước, báo án chậm trễ, kiến nghị khám nghiệm, mẹ chồng đ/ốt giấy, lời khai bác sĩ già.
Viết đến tận rạng sáng, tay mỏi mắt mờ, tôi gục xuống bàn ngủ thiếp đi.
Trán đ/è lên cuốn sổ, lúc tỉnh dậy giấy đã nhăn nhúm một mảng lớn, mực lem trên mu bàn tay, xanh rì.
Con chó cuộn tròn dưới chân, đang ngáy khò khò.
Tôi lại nhớ đến tấm ảnh đôi trong album--đứa trẻ bên trái khóe miệng trễ xuống, như đang kìm nén điều gì đó.
Trần Dư thỉnh thoảng ngẩn người cũng có góc độ đó.
Nếu trong báo cáo khám nghiệm t/.ử th/i viết em trai anh ta từ nhỏ bị đá/nh đ/ập, thì Trần Dư lúc nhỏ... có phải cũng đã nhìn thấy gì đó, nhưng không dám nói?
Bên cạnh vòng tròn "Trần Dư", tôi viết hai chữ: "Chứng kiến".
Bà chủ nhà có lần thò đầu từ cổng sân nhìn tôi, trên tay bưng bát chè đậu xanh.
Bát làm bằng tráng men, bị mẻ mấy miếng.
Bà nhìn đống giấy đầy bàn của tôi, thở dài một tiếng, nói: "Chuyện đã đóng nắp qu/an t/ài rồi, cô lật lại nó làm gì."
Giọng bà rất to, vì bà bị lãng tai, cứ tưởng người khác cũng không nghe thấy.