Nhìn chằm chằm vào cái tên của cha Triệu Nhất Minh, trong đầu tôi cứ suy đi tính lại – mình nên trực tiếp đến chất vấn ông ta, hay là tìm thêm bằng chứng khác?
Cuối cùng, tôi đứng dậy, siết ch/ặt chiếc điện thoại.
Mười lăm năm rồi, tôi không muốn chờ đợi thêm nữa.
Về đến nhà, tôi thay dép, đứng ở lối vào, lục tìm số của Triệu Thành Đức trong danh bạ rồi bấm gọi.
Chuông reo sáu hồi, đến hồi thứ bảy ông mới bắt máy, giọng nói già nua chậm chạp, như thể đang bị thứ gì đó đ/è nặng.
“Cha, con là Phương Viên. Con muốn gặp cha, nói chuyện về việc của mẹ con.”
Ông im lặng rất lâu, trong ống nghe truyền đến tiếng ông nuốt khan.
“Phương Viên à, chuyện quá khứ đừng nhắc lại nữa, con cứ sống tốt cuộc sống của mình đi.” Ông nói.
Tôi hít sâu một hơi.
“Con có mẩu giấy ghi chú của mẹ, trên đó có viết tên của cha.”
Trong ống nghe truyền đến một tiếng “bộp” rất nhẹ, như thể cái cốc bị lật.
Một lúc lâu sau, ông mới nói:
“Con qua đây đi.”
Tôi cúp máy, tối đó m/ua vé tàu cao tốc, lúc thanh toán tay tôi khựng lại hai nhịp khi nhập mật khẩu.
Trước khi xuất phát, tôi quét tất cả mẩu giấy và tài liệu hiện có thành bản điện tử, lưu vào ba dịch vụ lưu trữ đám mây khác nhau, mật khẩu đặt theo ngày sinh của mẹ.
Đến quê cũ của Triệu Thành Đức đã là tám giờ tối.
Chiếc taxi dừng ở đầu ngõ, đèn xe quét qua một chiếc xe đen đỗ bên đường, trong xe có người đang hút th/uốc, đốm lửa lúc ẩn lúc hiện trong bóng tối, nhưng người không xuống xe, cửa sổ chỉ hạ xuống một khe hở.
Tôi giả vờ như không thấy, kéo quai ba lô lên vai, đi thẳng đến cửa sân gõ cửa.
Cánh cửa sắt lạnh ngắt.
Triệu Thành Đức mở cửa, nhìn thấy tôi thì ngẩn người, mắt mở to hơn một chút, rồi nghiêng người nhường đường cho tôi vào, không đóng cửa.
Triệu Thành Đức mặc chiếc áo len cũ, cổ tay áo hơi sờn chỉ, tóc bạc trắng, ngồi trên sofa, trên bàn trà bày một chén trà, nước trà đã không còn bốc hơi.
Tôi đặt bản sao mẩu giấy ghi chú mà người cựu cảnh sát đưa cho lên bàn trà, mặt bàn kính lạnh lẽo.
Ông nhìn một cái, cổ vươn về phía trước, không đưa tay cầm lấy, chỉ nắm lấy chén trà xoay một vòng, đáy chén cọ vào mặt kính phát ra âm thanh trầm đục.
“Khi cha ký vào dòng chữ đó, mẹ con vẫn còn sống.” Tôi nói.
Giọng nói vang lên rõ mồn một trong phòng khách yên tĩnh.
Ông im lặng rất lâu, ánh mắt đột nhiên rơi vào tấm ảnh chụp chung ố vàng trên tường – trong ảnh, vài người trẻ mặc áo blouse trắng đứng trước cửa viện nghiên c/ứu cũ, ngoài cùng là mẹ tôi, mặc chiếc áo sơ mi hoa nhí đó, cười rất nhạt.
Yết hầu ông chuyển động, lẩm bẩm trong miệng:
“Tú Trân… cha có lỗi với con.”
Ông thở dài một hơi thật dài, giọng khàn đặc, như thể được nặn ra từ sâu trong lồng ngựk:
“Năm đó cha cứ ngỡ Cá Đỏ có thể tung ra thị trường. Cha muốn tất cả mọi người đều có thể m/ua được th/uốc chống trầm cảm – cha của cha chính là vì trầm cảm mà nhảy lầu.
“Nhưng phản ứng của mẹ con là một t/ai n/ạn, cha nói với Tổng giám đốc Tần hãy tạm dừng quan sát, nhưng ông ta nói thử nghiệm không thể dừng – một khi dừng lại, mọi khoản đầu tư đều tan thành mây khói.”
Ông đặt chén trà xuống, đáy chén va vào mặt kính, dùng tay xoa mặt rồi nói tiếp:
“Tổng giám đốc Tần bảo cha đi lấy tài liệu thử nghiệm về, che giấu hồ sơ – cha chỉ muốn che giấu những bất thường của thử nghiệm… nhưng ông ta nói, không trừ tận gốc thì mầm họa vẫn còn.
“Cha không thể xuống tay.
“Cuối cùng chính Tổng giám đốc Tần đã đích thân dẫn người đến nhà con khiêng đi hộp th/uốc.
“Ngày hôm sau mẹ con không còn nữa.”
Tay ông đang run, không phải giả vờ, các khớp ngón tay đều trắng bệch, cả bàn tay đặt trên đầu gối như một chiếc lá khô.
“Con là thứ duy nhất mẹ con để lại.”
Nói xong câu này, ông đứng dậy, đầu gối chống đỡ hai cái mới đứng thẳng được, đi đến trước tủ, tay đặt lên cánh cửa tủ dừng lại nửa phút, rồi mở khóa, từ bên trong lấy ra một chiếc hộp sắt cũ.
Ông mở hộp sắt, nắp hộp bật ra phát ra một tiếng rít của kim loại bị gỉ sét, bên trong là chiếc hộp th/uốc đó, chính là cái mà bà Lưu đã nói, lớp da màu nâu bên ngoài đã nứt toác.
Còn có một bức thư, phong bì giấy da bò.
Ông đặt hộp th/uốc trước mặt tôi, tay ấn lên đó một cái.
“Bên trong còn một bản tài liệu thử nghiệm gốc, cha chưa bao giờ dám tiêu hủy.
“Bức thư này là bức cha viết cho Tổng giám đốc Tần năm đó, cha vẫn luôn cất giữ.
“Con cầm lấy đi.”
Nói xong ông lùi lại hai bước, như thể bị thứ gì đó đẩy ra.
Tôi mở hộp th/uốc, bên trong có mùi ẩm mốc lẫn với mùi giấy cũ.
Bên trong có một xấp hồ sơ thử nghiệm ố vàng, trên trang đầu tiên viết:
Đối tượng thử nghiệm 0317 - Lý Tú Trân - Tiếp tục quan sát.
Tên của mẹ tôi được ai đó viết bằng bút máy màu đen lên trên.
Trong hồ sơ ghi chép chi tiết từng lần rối lo/ạn trí nhớ, mất phương hướng, suy sụp cảm xúc của mẹ sau khi uống th/uốc – lần ghi chép cuối cùng là ngày 16 tháng 10 năm 2009, một ngày trước khi mẹ tôi qu/a đ/ời.
Nét chữ ở trang đó cẩu thả hơn hẳn các trang khác.
Phía sau dòng ghi chép cuối cùng, có một chữ ký: Triệu Thành Đức.