Mười sáu năm trước, khi con bé vẽ bàn tay này, hai đứa chúng tôi nằm bò trên bàn học, nó chê mình vẽ không đẹp, cứ xóa rồi vẽ, vẽ rồi lại xóa, nóng nảy đến mức chu môi lên.
Tôi bảo vẽ thế là tốt lắm rồi, nó nói không được, phải vẽ cho đẹp.
Sau đó nó cuối cùng cũng vẽ xong, đưa cho tôi xem, lúc cười thiếu mất một chiếc răng cửa.
Tôi đặt tấm thiệp lên bàn, không cho vào vali, cũng không vứt đi.
Trước khi ngủ, nằm trên giường, đèn xe ngoài cửa sổ quét qua, ánh sáng di chuyển trên rèm cửa, từ trái trượt sang phải rồi biến mất.
Từ xa vọng lại tiếng chó sủa, không biết là chó nhà nào, sủa vài tiếng rồi thôi.
Tôi kéo chăn lên cao, nhắm mắt lại.
Trong bóng tối, dường như lại nghe thấy tiếng chuông báo hiệu đếm ngược của Trình Dã kết thúc, rồi sau đó chẳng còn âm thanh nào nữa.
-- * --
Còn hai ngày nữa là khởi hành, mỗi tối đổ rác, tôi đều thấy một bóng người đứng ở cổng khu chung cư, dáng người g/ầy gò nhỏ bé, nhìn về phía tôi từ xa nhưng không bao giờ lại gần.
Là Trình Lộ.
Tôi không bước tới.
Ngày khởi hành, sau khi ngủ dậy, tôi đẩy vali ra phòng khách, tiếng bánh xe lăn trên sàn nhà nghe thình thịch.
Mẹ tôi đã ra ngoài, trên bàn đặt một túi bánh bao và một cốc sữa đậu nành, cốc sữa được bọc bằng màng bọc thực phẩm, bên cạnh đ/è một mảnh giấy nhắn:
“Hâm nóng rồi hãy ăn. Sớm về nhé.”
Nét chữ nguệch ngoạc, chữ “về” cuối cùng viết không trọn vẹn, nét bút bị đ/ứt quãng.
Tôi cầm cốc sữa đậu nành lên, đã nguội ngắt.
Đứng bên bàn ăn hết bánh bao, lạnh tanh, chẳng hề hâm lại.
Sữa đậu nành cũng uống sạch, ngọt đến phát ngấy -- bà cho quá nhiều đường.
Trước khi ra cửa, tôi gấp mảnh giấy nhắn lại, nhét vào túi xách.
Thời gian: 9 giờ 03 phút sáng, còn chưa đầy hai tiếng nữa là tàu G1812 khởi hành.
Kéo vali ra cửa. Thang máy xuống tầng một, cửa mở, bên ngoài đứng một người phụ nữ.
Tóc tai rũ rượi, mặc chiếc áo len xù lông, dưới mắt là quầng thâm đen kịt. Là Trình Lộ.
Nó nhìn thấy tôi, cơ thể co rúm lại, như thể bị ánh đèn trong thang máy làm chói mắt.
Tôi kéo vali bước ra ngoài, dừng lại trước mặt nó.
Chúng tôi cách nhau chưa đầy một mét, không ai mở lời trước.
Vết t/át của mẹ Trình trên má trái nó giờ chỉ còn lại vệt vàng nhạt, sắp tan hẳn.
Nhưng đôi mắt sưng húp, không giống như vừa khóc, mà giống như đã thức trắng mấy đêm.
Tay nó nắm ch/ặt một thứ gì đó, một túi nilon, không biết đựng gì bên trong.
Đôi môi mấp máy mấy lần, cuối cùng rặn ra hai chữ:
“Niệm Niệm.”
Giọng khản đặc như giấy nhám.
Nó đưa chiếc túi trên tay ra, nhét vào tay tôi.
Chiếc túi nhẹ bẫng, tôi cúi đầu nhìn một cái -- bên trong là một bình trầu bà thủy sinh. Chính là chậu cây trên bậu cửa sổ của nó.
Hai nhân vật nhỏ vẽ trên bình đã sắp không nhìn rõ nữa, nước hơi đục, nhưng lá cây trầu bà vẫn xanh, rễ cây cuộn thành một búi trong nước.
Lá có vài cái đã vàng, mép lá khô héo, nhưng không hề bị thối.
Nó đã bê chậu trầu bà từ bậu cửa sổ xuống, mang ra khỏi nhà họ Trình.
Nó nói:
“Chậu này... cậu từng nói thích. Tớ không nuôi nữa, cho cậu.”
Nói xong liền cúi đầu, tay không biết đặt vào đâu, túm lấy gấu áo len, đ/ốt ngón tay vẫn trắng bệch.
Áo len xù một hàng lông, to nhỏ không đều, cổ tay áo bị tuột chỉ, lủng lẳng một sợi chỉ xám.
Tôi nhìn xoáy tóc trên đỉnh đầu nó, tóc bết dầu thành từng lọn, không biết đã bao lâu chưa gội.
Gương mặt từng mỗi ngày buộc hai bím tóc, dùng dây chun dâu tây buộc cao hồi cấp hai đó, giờ đây như bị ai đó dùng nước rửa trôi hết màu sắc.
Tôi cầm bình trầu bà, thân bình lạnh buốt.
Trong đầu cuộn trào bao nhiêu câu chữ, muốn nói “cậu nghĩ tặng cái này là có ích sao”, muốn nói “lúc giúp anh trai tớ sao cậu không nghĩ đến hôm nay”, muốn nói “cả đời này không muốn gặp lại cậu nữa”.
Nhưng những lời đó đến bên môi, chẳng nói ra được câu nào.
Không phải là tha thứ, mà là đã mệt rồi. Mệt đến mức ngay cả h/ận cũng lười h/ận.
Một người tốt với bạn mười sáu năm, đột nhiên một ngày phản bội bạn, bạn từ đó không biết nên coi cô ấy là kẻ th/ù, người dưng, hay là cô bé thiếu mất một chiếc răng cửa, cười lên là mắt híp lại trong ký ức kia nữa.
Sau khi nó nhét bình trầu bà cho tôi, nó quay người bước ra ngoài khu chung cư.
Đi được vài bước, chân giẫm phải một viên đ/á, trẹo một cái, nó cúi người vịn tường, rồi lại tiếp tục đi.
Bóng lưng nhỏ bé, chiếc áo len trống rỗng treo trên người, mái tóc xõa tung che khuất nửa khuôn mặt.
Nó không ngoảnh đầu lại. Tôi cũng không gọi nó.
Tôi đứng ở cổng khu chung cư cho đến khi bóng lưng nó biến mất ở góc phố. Đèn giao thông ở góc phố đã đổi màu ba lần.
Tôi cúi đầu nhìn bình trầu bà. Nắp bình hơi lỏng, tôi vặn ch/ặt lại một chút, rồi nhét nó vào túi bên hông vali.
Thân bình vừa khéo lọt vào cái túi đó, cái túi từng đựng những tấm thiệp trước kia.
Lá trầu bà lộ ra bên ngoài, đung đưa nhẹ nhàng theo nhịp kéo vali.