Chu Di chính thức bị bắt giam, Viện kiểm sát chuẩn bị truy tố.
Ngày tôi đưa Ni Ni rời khỏi thị trấn, đứng trước cửa bến xe đường dài, con bé đeo một chiếc cặp sách nhỏ, dây cặp quá dài nên cứ tuột xuống mãi.
Nó chỉ vào tên địa danh trên bảng hiệu trạm xe hỏi tôi đi đâu, ngón tay lướt qua từng chữ một.
Tôi đứng trước cửa bến xe một lát, móc từ trong túi ra chùm chìa khóa cổng nhà họ Chu – thứ mà mẹ chồng đã tận tay trao cho tôi khi tôi gả vào nhà họ năm năm trước.
Tôi ném nó vào thùng rác bên cạnh, chiếc thùng sắt phát ra một tiếng động trầm đục.
Sau đó tôi ngồi xổm xuống nói với Ni Ni: “Đi đến một nơi mà cửa sổ không có ván gỗ.”
Ni Ni nghiêng đầu nhìn tôi, không hiểu lắm, nhưng cũng không hỏi thêm.
Nó đặt bàn tay nhỏ vào lòng bàn tay tôi, bàn tay nóng hổi, hơi dính dính.
Nó cúi đầu nhìn đôi giày vải mới trên chân tôi, hỏi: “Mẹ ơi, đôi giày cũ của mẹ đâu rồi?”
Tôi nói: “Vứt rồi, đôi giày đó làm đ/au chân mẹ.”
Xe chưa đến, một người đàn ông trẻ mặc vest từ phòng chờ chạy ra.
Tiếng giày da nện lạch cạch trên nền xi măng, cà vạt lệch sang một bên.
Anh ta chặn tôi lại, thở không ra hơi, nói mình là luật sư đại diện của Chu Minh, Chu Minh muốn gặp con gái lần cuối.
Ni Ni ôm ch/ặt cổ tôi, mặt vùi vào vai tôi, đôi chân nhỏ kẹp ch/ặt lấy eo tôi.
Hơi thở của con bé phả vào cổ tôi, nóng hổi và ngứa ngáy.
Tôi nhìn vào mắt vị luật sư đó, nói ba chữ: “Không thể nào.”
Luật sư còn muốn nói gì đó, miệng há ra nửa chừng.
Tôi bồi thêm một câu: “Bảo với anh ta, từ nay về sau con bé mang họ Thẩm.”
Khi xe đường dài chuyển bánh, động cơ gầm lên ầm ĩ, thân xe rung nhẹ.
Ni Ni nằm bò trên cửa sổ sau, quỳ trên ghế, hơi nóng từ miệng con bé làm mờ một mảng kính.
Nó dùng ngón tay vẽ một vòng tròn vặn vẹo lên lớp sương mờ đó.
Tôi vươn tay lau sạch lớp sương, lòng bàn tay áp vào lớp kính lạnh lẽo.
Bên ngoài là những cánh đồng lúa đang ngả vàng, bông lúa cúi đầu, gió thổi qua là từng đợt sóng nhấp nhô.
-- * --
Một năm sau.
Xưởng của nhà họ Chu đã đóng cửa, mẹ chồng nằm liệt giường, Chu Minh đi làm thuê ở nơi khác, không còn mặt mũi nào quay lại thị trấn.
Có người nói từng thấy anh ta ở một công trường phía Nam.
Án của Chu Di bị tuyên bảy năm tù, nghe nói trong đó cải tạo tốt, đang phụ giúp trong phòng y tế.
Còn tôi và Ni Ni đã ổn định cuộc sống tại một con ngõ nhỏ ở thành phố lân cận, tiệm ăn sáng của tôi lên đèn từ năm rưỡi sáng mỗi ngày.
Cửa cuốn kéo lên phát ra tiếng lạch cạch một hồi, tiếng động dứt hẳn, trong ngõ mới bắt đầu có những âm thanh khác.
Nắp lồng hấp mở ra, hơi nước trắng xóa ập vào mặt, nóng hổi.
Tôi vừa nhào bột vừa gọi ra ngoài: “Thêm trứng một rưỡi, không thêm một đồng.”
Khối bột xoay chuyển dưới lòng bàn tay, trên thớt dính đầy bột khô.
Ni Ni đang học lớp chồi ở trường mầm non gần đó, mỗi chiều vợ lão Hàn lại giúp tôi đón con bé.
Ni Ni gọi bà ấy là “Dì Hàn”, gọi rất ngọt ngào, như đang ngậm một viên kẹo.
Khi Dì Hàn đến đón thường mặc một chiếc áo khoác đỏ, nói là đứng bên đường cho dễ thấy.
Có lần Dì Hàn đón Ni Ni, trước cổng trường đỗ một chiếc xe tải nhỏ không biển số.
Dì Hàn dắt Ni Ni vòng qua hai con ngõ mới dám về nhà.
Bà ấy không nói với tôi chuyện này, ngày nào cũng đến đón đúng giờ, cười tươi rói.
Chiếc xe tải đó từ đó về sau không bao giờ xuất hiện nữa.
Có lẽ người nhà họ Chu cuối cùng cũng bỏ cuộc, có lẽ không.
Nhưng tôi đã chuyển trường cho Ni Ni, còn Dì Hàn mỗi ngày đều đổi ba con đường khác nhau để đón con bé.
Ngày tháng cứ thế trôi qua, không có gì quan trọng hơn điều đó.
Lão Hàn sau này mới nhắc đến, bảo rằng: “Thím nhà chú bây giờ đi đón cháu, trong túi lúc nào cũng thủ sẵn một bình xịt ớt, ngày nào cũng mang theo, tối ngủ còn để đầu giường.”
Ông ấy nói câu đó khi đang uống trà, giọng điệu rất thản nhiên, nhưng khi nâng tách trà lên, tay ông ấy lại r/un r/ẩy.
Một ngày nọ, Ni Ni từ trường mầm non về, lấy trong cặp sách ra một bức tranh.
Giấy vẽ nhăn nhúm, các góc đã sờn, trên đó vẽ hai người que: người lớn đeo tạp dề, người nhỏ tết tóc, ngón tay là những đường thẳng tắp.
Con bé chỉ cho tôi xem: “Đây là mẹ, đây là con. Cô giáo bảo vẽ về gia đình, nên con vẽ hai mẹ con mình.”
Khi nói “hai mẹ con mình”, giọng con bé đặc biệt trong trẻo, như tiếng chuông nhỏ.
Tôi khen vẽ đẹp lắm, dán bức tranh lên tường quầy thu ngân, dùng băng dính trong dán bốn góc.
Băng dính dán hơi lệch, nhưng rất chắc chắn.
Một buổi sáng nọ mở cửa, khi kéo cửa cuốn lên, từ khe hở rơi xuống một phong bì giấy kraft.
Phong bì đã rất cũ, bề mặt xơ x/ác, không ghi người gửi, dấu bưu điện mờ đến mức không nhìn rõ.
Tôi x/é ra, bên trong chỉ có một tờ giấy x/é ra từ sổ b/ệnh án, vết x/é rất nham nhở.
Trên giấy có một dòng chữ: “M/áu của con gái cô, giống hệt bố tôi.”
Tờ giấy rất nhăn, như thể từng bị vò nát rồi lại vuốt phẳng, chữ được viết bằng bút bi xanh, vặn vẹo, mỗi nét “nét mác” đều bị kéo dài lê thê về phía bên phải.
Tôi lật mặt sau tờ giấy, trống trơn, chẳng có gì cả.