Có một tối nọ, ngay trước khi chìm vào giấc ngủ, con gái đột nhiên hỏi tôi: "Mẹ ơi, tại sao bố không về nữa?"
Con bé hỏi rất bất ngờ, tay ôm ch/ặt chú thỏ bông, đôi tai của chú thỏ đã bị con bé cắn nát cả rồi.
Tôi ôm con vào lòng rồi đáp: "Vì bố đã đến một nơi không thể quay về được nữa rồi."
Con bé chớp chớp mắt, không hỏi thêm nữa, rúc đầu vào nách tôi, một lát sau đã ngủ thiếp đi.
Lắng nghe hơi thở đều đặn của con, lồng ngựk tôi cảm thấy nghẹn ứ suốt một hồi lâu.
Sau khi con bé ngủ say, tôi quay đầu nhìn sợi dây chuyền trên bàn trang điểm.
Ngày cảnh sát trả lại vật chứng cho gia đình, Trần Nhã Ninh đã tìm đến tôi, lấy từ trong túi ra một chiếc túi nhung nhỏ, bên trong là sợi dây chuyền đó.
Cô ấy bảo, khi nhận lại được đồ, cô ấy đã suy nghĩ rất lâu, cuối cùng cảm thấy Nhã Tĩnh chắc hẳn muốn nó ở bên cạnh một người luôn nhớ về mình.
"Đây vốn là món đồ thân thiết nhất của Nhã Tĩnh, gắn bó với em ấy lâu nhất, giờ hãy để nó ở gần người sẽ luôn nhớ về em ấy."
Khi tôi đón lấy, mặt dây chuyền hình trăng khuyết lạnh ngắt, tay tôi run lên.
Sợi dây chuyền nằm đó trên bàn trang điểm, ánh đèn chiếu lên mặt trăng khuyết, vết đốm nâu vẫn còn đó, nhưng giờ đây những thứ ấy đã mang một ý nghĩa khác.
Đó là món đồ duy nhất tôi mang đi từ căn nhà đó.
Một buổi chiều nọ, tôi lấy chiếc hộp sắt ra khỏi thùng đồ cũ – chính là chiếc hộp sắt tìm thấy trong hốc lốp dự phòng ở gara ngày trước.
Sau khi vụ án kết thúc, cảnh sát làm thủ tục vật chứng đã trả riêng chiếc hộp sắt cho tôi, nói rằng tôi giữ cũng không vấn đề gì.
Tôi mang chiếc hộp ra dưới gốc cây hoa quế, dùng d/ao làm bếp đào một cái hố. Đất rất tơi xốp, đào vài nhát đã thành một cái hố nhỏ.
Tôi đặt sợi dây chuyền vào trong hộp, đậy nắp lại, thả xuống hố, lấp đất rồi dùng tay vỗ phẳng.
Tôi không dựng bia, chỉ đặt lên đó một viên đ/á cuội nhặt được gần đó.
Hoa quế rụng xuống, những cánh hoa vàng óng li ti rải rác trên mặt đất.
Đêm khuya, thỉnh thoảng ngoài hành lang lại có tiếng bước chân.
Một hoặc hai giờ sáng, chắc là hàng xóm tầng trên đi làm ca đêm về.
Tiếng giày da nện xuống cầu thang xi măng, một nhịp, rồi lại một nhịp.
Tôi vẫn không tránh khỏi cảm giác cứng đờ cả người, co rúm lại dưới chăn như một cánh cung, theo phản xạ lại đưa tay xuống dưới gối.
Ngón tay chạm vào đường viền của cán kéo.
Nhưng có một đêm, tay đưa xuống dưới gối lại không chạm phải kéo.
Đó là một mẩu bánh quy cứng, hơi vụn, đã vỡ làm đôi.
Tôi cầm thứ đó rút tay ra, đưa lên ánh đèn đường ngoài cửa sổ nhìn – là nửa miếng bánh quy, bị đ/è nát, vụn bánh rơi cả vào khe gối.
Con bé nhét vào từ bao giờ nhỉ?
Sáng hôm sau, con bé ghé sát tai tôi thì thầm: "Mẹ ơi, mẩu bánh đó để mẹ ăn khi tối mẹ đói đấy."
Nói câu này, tay con bé vẫn cầm bàn chải đá/nh răng nhỏ, kem đá/nh răng dính đầy khóe miệng.
Tôi nhìn con, không nói gì, ôm con vào lòng rồi hôn lên đỉnh đầu.
Đêm đó, tôi lại không ngủ được.
Cầm nửa miếng bánh quy trong tay, ngồi lặng lẽ trong bóng tối suốt một hồi lâu.
Ánh đèn đường hắt qua rèm cửa, đổ xuống sàn nhà một vệt vàng nhạt.
Cây hoa quế ngoài cửa sổ đung đưa trong gió, lá cọ vào cửa kính kêu sột soạt.
Những ngày tháng không thể gọi tên, những thứ nghẹn ứ trong lồng ngựk mà chẳng biết diễn tả sao cho vừa, vẫn phải từ từ mà sống tiếp.
Tôi đặt mẩu bánh quy lên bàn đầu giường, uống một ngụm nước.
Trước khi nằm xuống, tôi lấy chiếc kéo từ dưới gối ra, mở ngăn kéo bàn đầu giường rồi cất vào trong.
Đẩy ngăn kéo vào thêm một chút.
Đóng lại.
Rồi nằm xuống.
Ngày mai lại phải dậy sớm, đưa con đi học.