Khi tôi chui vào đội ngũ lưu dân, trời đã tối mịt.

Ba ngày, chỉ còn ba ngày nữa.

-- * --

Tôi trà trộn vào đoàn người chạy nạn. Đội ngũ này có vài chục người, già trẻ lớn bé, chen chúc giữa những xe bò, xe lừa hướng về phía Bắc.

Tôi dùng tro bếp và bùn bôi lên mặt đến mức không còn nhận ra diện mạo ban đầu, gói kỹ trang danh sách còn sót lại bằng giấy dầu, dán ch/ặt vào da th!t rồi dùng vải buộc ch/ặt bên hông đùi, nơi có vết thương khác. Mỗi bước đi, dải vải lại cọ vào vết thương bên cạnh, vừa đ/au vừa ngứa, nhưng chính vì thế mà tôi không dám dừng lại.

Trời tối hẳn, đoàn lưu dân dừng lại dựng trại. Tôi thu mình dưới gầm một chiếc xe lừa, không dám nhắm mắt. Không dám dừng, nên sẽ không dừng lại.

Ngày đầu tiên trên đường coi như bình an.

Đói đến mức không chịu nổi, tôi thấy một lão già lưu dân s/ay rư/ợu nằm vật trên xe lừa ngáy khò khò, chiếc bánh từ tay lão lăn xuống rơi vào đống cỏ bên cạnh thành xe. Tôi cúi người nhặt lên, x/é một nửa nắm trong tay, nửa còn lại đặt về cạnh nải của lão.

Nước uống đã cạn, tôi phải uống nước trong vũng bùn do móng gia súc giẫm ra, nồng mùi bùn và mùi nước tiểu ngựa. Uống xong tôi nằm rạp xuống đất nôn khan một hồi, dạ dày rỗng tuếch, thứ nôn ra chỉ là nước chua, cổ họng nóng rát không chịu nổi. Tôi quệt miệng rồi tiếp tục đi.

Ngày thứ năm trôi qua. Còn lại hai ngày.

Chiều ngày thứ hai, quân truy đuổi đã đến.

Người của Tuần kiểm ty lần theo dấu chân lưu dân đuổi tới, kẻ dẫn đầu là một tên bách hộ dưới quyền Triệu Hoàng, cưỡi ngựa hồng táo, dắt theo chó săn.

Tôi không dám chạy, chạy là thành mục tiêu ngay. Tôi lách xuống gầm xe lừa, bốc một nắm phân gia súc bôi đầy lên người. Con chó chạy trong đám đông, ngửi từng người một, đến chỗ tôi thì hắt hơi một cái -- mùi phân quá nồng, nó lắc lắc đôi tai, vẫy đuôi bỏ đi chỗ khác.

Tôi thu mình dưới gầm xe, tay nắm ch/ặt đồng tiền vẫn còn run bần bật. Đợi quân truy đuổi đi xa, tôi nằm thêm mười mấy nhịp thở nữa mới dám chui ra.

Trong đêm, tôi tìm thấy hầm chứa lương thực. Trong hầm quả nhiên có lương khô và nửa bình rư/ợu trắng. Tôi dùng rư/ợu trắng rửa lại vết thương, đ/au đến mức cắn nát cả mảnh vải vụn. Th/uốc mỡ A Linh đưa đã dùng hết, vết thương trên bắp chân bắt đầu đen lại, tôi biết nó đang hoại tử. Nhưng tôi không thể dừng lại, sáng mai phải vượt núi, vượt qua núi là đến biên quan.

Đêm đó tôi gối đầu lên bình rư/ợu mà ngủ, nửa đêm gi/ật mình tỉnh giấc mấy lần, lần nào cũng tưởng có người cầm đ/ao đứng ở cửa hầm.

Lần gi/ật mình cuối cùng, trời đã gần sáng. Ngày thứ sáu sắp hết. Chỉ còn một ngày nữa.

Xuống núi, đã là sáng sớm ngày thứ bảy. Tôi nhìn thấy từ xa đài phong hỏa của biên quan, bên ngoài cửa ải cắm nghi trượng của khâm sai, cờ vàng phấp phới trong gió kêu phần phật.

Khâm sai Chu đại nhân đang kiểm tra lương thực tại cửa ải, xung quanh toàn là binh lính, dân thường không thể đi qua.

Tôi đứng ngoài đám đông, chân mềm nhũn, nhưng tôi không quỳ. Tôi nuốt nước bọt, cát trong miệng làm răng tôi ê buốt. Tôi chỉnh lại bộ áo bông rá/ch, quệt thêm bùn lên mặt rồi tiến về phía nghi trượng. Khi đi, chân tôi r/un r/ẩy, nhưng bước chân không hề dừng lại.

Ngày thứ bảy, ngày cuối cùng. Thời gian sắp cạn kiệt.

Nghi trượng của khâm sai cách một con mương đất, trong mương có nước phân gia súc, hôi thối nồng nặc. Mấy tên lính chặn người bên mương, xô đẩy qua lại.

Tôi đứng phía bên kia mương, miệng khô khốc đến mức không nuốt nổi nước bọt. Cha tôi từng nói, quân Trấn Bắc trước mặt khâm sai có một bộ ám ngữ để nhận diện, không gọi tên mà gọi phong hiệu.

Phong hiệu của quân Trấn Bắc là “Phá Lỗ Tả Doanh”, cờ hiệu của cha tôi là “Dưới cờ Hắc Vân”.

Hắc Vân, con chó đã theo Triệu Hoàng kia, tên của nó chính là bắt nguồn từ đây.

Giữa trưa ngày thứ bảy, mặt trời gay gắt. Tôi hít một hơi thật sâu, dồn hết sức lực bình sinh hét lớn về phía đối diện:

“Sở Hoài Bích, hậu doanh quân Trấn Bắc, xin cầu kiến Chu đại nhân!”

Hét xong thì ho, ho ra cả m/áu, nhưng tiếng hét đủ lớn, lớn đến mức phía bên kia yên lặng mất khoảng hai nhịp thở.

Mặt trời đ/ốt ch/áy da đầu, tôi đứng bên mương nước phân, thời gian trôi qua từng giây từng phút.

Binh lính bên cạnh nghe thấy chữ “Sở” liền xì xào bàn tán, lá cờ vàng trong nghi trượng khựng lại một chút, rồi một người mặc áo bào đỏ tía từ trên lưng ngựa quay đầu lại.

Tôi đứng đó, không gọi tiếng thứ hai, vì cổ họng đã như bị giấy nhám chà qua.

Người mặc áo bào đỏ tía chính là khâm sai Chu đại nhân.

Ông thúc ngựa bước qua con mương đất, nước phân b/ắn đầy lên đôi ủng da của ông, ông không cúi đầu nhìn lấy một cái. Ông cưỡi ngựa đến trước mặt tôi, nhìn xuống từ trên cao.

Tôi thấy bên hông ông treo một thanh đoản đ/ao của quân biên cương, trên vỏ đ/ao khắc hai chữ “Chấn Đình”.

Đó là thanh đ/ao cha tôi tặng ông ấy. Tôi nhận ra thanh đ/ao đó.

Ông thấy tôi cứ nhìn chằm chằm vào thanh đ/ao, cũng cúi đầu nhìn một cái, rồi rút đ/ao ra, nắm ngược trong tay.

Chu đại nhân hỏi:

“Cô là người thế nào của ông ấy?”

Xung quanh toàn là binh lính, tôi không thể nói thẳng thân phận. Cha từng dạy tôi, lúc này phải dùng vật chứng.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Yêu Nhầm

Chương 14
Tôi chưa từng nghĩ mình sẽ thích con trai. Trớ trêu thay, người đó lại là Hứa Tri Viễn, con trai của cấp trên của bố tôi. Chỉ có thể âm thầm nhìn, không dám thổ lộ. Hồi đó, ngày nào tôi cũng bám lấy em trai hắn là Hứa Tri Dã. Ngủ chung một giường, mặc chung một chiếc quần. Ngay cả chuyện tôi là con riêng, cậu ấy cũng biết rõ. Năm đầu tiên đi làm, Hứa Tri Dã hỏi tôi có người mình thích chưa. Tôi không kìm được, bèn nói thật. Cậu ấy im lặng rất lâu, lon nước trong tay bị cậu ấy siết chặt đến mức méo mó. Tôi vội vàng giải thích: "Tớ biết thân phận của mình, sẽ không mơ tưởng trèo cao đâu." "Với lại, nếu bố tớ biết, chắc chắn sẽ đánh chết tớ." Kết quả, cậu ấy vừa quay đầu đã đi nói với bố tôi ngay lập tức.
272
4 Nhật Ký Bảo Vệ Chương 25
6 Mèo của anh Chương 15
7 Ngáy ngủ Chương 12
9 Cốt yêu làm mẹ Chương 11
10 DÂN GIAN DỊ VĂN LỤC - CHUYỆN KỲ LẠ TRONG DÂN GIAN Chương 405: Thành phố mới, khí tượng mới

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Mạn Mạn An Ninh

Chương 11
Đoàn đưa dâu nhà ta đi ròng rã suốt một tháng trời, nếm trải bao gian khổ mới đưa được ta đến nhà chồng. Thế nhưng vừa bước chân vào cửa đã biết mẹ chồng là kẻ khắc nghiệt, hống hách. Nàng thiếp được chồng sủng ái trong phòng thì chẳng khác nào một nửa nữ chủ nhân, đã sinh cho hắn hai trai hai gái, đủ để lập thành một bàn mạt chược rồi. Đêm động phòng, sắc mặt Đỗ Dục lạnh lùng, cao ngạo: 'Đừng tưởng xuất thân từ thế gia Lũng Tây mà có thể sai khiến kẻ khác, muốn làm gì thì làm!' 'Sau này hiếu kính cha mẹ chồng, hầu hạ phu quân, yêu thương thiếp thất cùng con cái thứ xuất, đó mới là đạo làm người...' 'Đã vào cửa nhà họ Đỗ ta, sống là người của ta, chết là ma của ta. Dù nàng có về nhà mách lẻo cũng đã muộn rồi...' Hắn nói một tràng dài những yêu cầu vô lý, đoạn mới phát hiện ra ta ngay cả lông mày cũng chẳng hề nhíu lấy một cái. Ta tùy ý lướt tay qua cây cung bên cạnh, khẽ cười: 'Ngươi đoán xem, nữ tử xuất thân như ta tại sao lại phải gả đi xa?' 'Đoán đúng có thưởng.'
Nữ Cường
14