Những đinh đồng trên vòng cửa có năm hàng, mỗi hàng ba cái, tổng cộng mười lăm cái, tôi đếm hai lần vì không biết sau khi vào trong liệu còn có thể ra ngoài để đếm nữa hay không.
Từ các lão bắt tôi quỳ ngoài bậc cửa thư phòng nửa canh giờ mới lên tiếng.
Ông ta ngồi sau bàn sách, tay lật một tập tấu chương cũ, không thèm nhìn tôi, giọng như đang tự nói với chính mình: "Cô có biết tại sao ta có thể ngồi ở vị trí này hai mươi năm không?"
Tôi không đáp.
Ông ta tự hỏi tự trả lời: "Vì ta không h/ận bất cứ ai."
Ngón tay ông ta lật tấu chương rất vững, giấy lật qua phát ra tiếng "xoẹt" khẽ khàng.
Cuối cùng ông ta ngẩng đầu nhìn tôi, ánh mắt rất bình thản, thậm chí còn mang theo chút từ bi.
Ông ta nói: "Ôn Hanh, cô không giống cha cô. Ông ấy để hỉ nộ lộ hết ra mặt, cuối cùng để cả mạng sống gia đình treo ở chợ. Còn cô, cô thông minh hơn ông ấy -- cô giấu được hỉ nộ, nhưng giấu được mặt, lại không giấu được ánh mắt. Lúc cô tính kế người khác, ánh mắt rất giống một người bạn cũ của ta -- cha cô."
Khi nghe câu này, mồ hôi sau lưng tôi còn lạnh hơn cả đầu gối.
Đầu gối quỳ trên gạch lạnh, nhưng mồ hôi sau lưng tôi còn lạnh hơn cả đầu gối.
Ông ta nói: "Cô tưởng chỉ cần động cái miệng là có thể xoay chuyển kẻ th/ù như chong chóng. Cô đoán xem sau đó ông ấy thế nào?"
Tôi không dám ngẩng đầu, cúi rạp người xuống nói: "Nô tỳ không dám."
Bốn chữ này là rặn ra từ kẽ răng.
Khi nói chữ "Nô", răng chạm vào môi dưới, môi tôi đang r/un r/ẩy.
Ông ta đứng dậy, đi đến trước mặt tôi, tự tay đỡ tôi dậy.
Tay ông ta khô g/ầy nhưng sức lực không nhỏ, cứng rắn đỡ tôi đứng lên, ép tôi nhìn vào mắt ông ta.
Ông ta hơi cúi người, giọng thấp đến mức chỉ hai người chúng tôi nghe thấy: "Tất nhiên là cô không dám. Nhưng trong số các cô nương của cô, ít nhất còn ba đôi mắt là người của ta. Gi*t cô, Ngọc Lang Các tan rã, ta lại phải tốn công tìm chỗ khác. Cô cứ sống đi, diễn nốt vở kịch này cho ta. Nếu ngày mai ta muốn cô ch*t, chỉ cần một câu 'Dư nghiệt nhà họ Ôn, mưu đồ phản nghịch', cô ch*t không là gì, nhưng Ngọc Lang Các cô thâu tóm, những cô nương cô thu nhận, những cuốn sổ sách cô tích cóp -- tất cả đều phải ch/ôn cùng cô xuống đất."
Khi ông ta nói "ba đôi mắt", trong đầu tôi lần lượt hiện lên gương mặt của Liễu Nhứ, Ngọc Thiền và Trầm Hương.
Ông ta biết hết.
Ông ta buông tay ra, lùi lại một bước, trở về làm một vị các lão ôn hòa.
Ông ta cười nói: "Hôm nay giữ cô lại không phải vì cô ngoan, mà vì cô còn hữu dụng. Lần sau còn giở trò khôn vặt, kẻ ch*t không chỉ có một mình cô đâu."
Ông ta xoay người trở về sau bàn sách, gọi vọng ra ngoài: "Tiễn khách".
Khi ông ta hô hai chữ đó, giọng điệu tùy ý như đang sai bảo hạ nhân dâng trà vậy.
Lúc ra cửa, người áo xám ngay trước mặt tôi lôi Liễu Nhứ ra sân đá/nh hai mươi gậy.
Gậy bọc sắt, tiếng rơi xuống trầm đục như tiếng trống.
Tiếng kêu thảm thiết truyền đến từ phía sau, tiếng đầu tiên sắc nhọn, tiếng thứ hai khàn đặc, tiếng thứ ba bắt đầu ú ớ.
Tôi không quay đầu lại.
Khi D/ao Quang đỡ lấy tôi, tay tôi đã nắm ch/ặt đến mức làm rá/ch cả cổ tay áo -- cái lỗ đó là do sợi chỉ bị đ/ứt khi tôi kéo mạnh, ngón cái có thể chọc qua được.
Khi tôi bước ra khỏi cửa lớn Từ phủ, chân mềm nhũn suýt nữa quỳ xuống.
Ngồi vào trong kiệu, khoảnh khắc rèm cửa buông xuống, tôi bắt đầu r/un r/ẩy.
Không phải sợ, mà là cái lạnh từ da đầu đến gót chân -- kế hoạch mà tôi tưởng rằng kín kẽ không kẽ hở, trong mắt ông ta ngay cả một gợn sóng cũng không tạo nổi.
Ông ta không gi*t tôi không phải vì nhân từ, mà là đợi đến ngày dầu trên người tôi bị vắt cạn mới ra tay.
Ngoài rèm kiệu là tiếng rao hàng của phố xá, ồn ào náo nhiệt, còn tôi sau lớp vải này, run như một cái sàng.
Khi kiệu đi qua đầu ngõ, tôi vén một góc rèm nhìn lại -- người áo xám vẫn đứng ở cửa hông, ông ta đang dùng khăn tay lau tay, lau rất chậm, lau từng ngón một.
Lau xong ông ta gấp khăn nhét lại vào tay áo, xoay người đi vào trong.
Tay mình run, hay là chê bẩn? Hai cách giải thích này xoay vòng trong đầu tôi, tôi không phân biệt nổi.
-- * --
Trở về Ngọc Lang Các đã qua trưa.
Tôi không ăn cơm, một mình ngồi trong phòng, nhìn mặt mình trong gương đồng.
Người trong gương tôi quen, mà cũng không quen -- mặt rất bình thản, nhưng dưới mắt có vết thâm xanh nhạt.
Tôi đưa tay chạm vào vết thâm đó, ngón tay chạm vào mặt gương, lạnh lẽo, mới nhận ra đó là người trong gương, không phải chính mình.
Ngón tay dừng trên mặt gương một lúc, vạch ra hai vệt trắng, sau khi hơi nước tan đi, khuôn mặt lại rõ nét.
Sau khi trời tối, Ngọc Trâm bưng bát cháo vào, đặt lên bàn, đứng bên cạnh không nói gì.
Cháo là cháo trắng, bên trên nổi một lớp váng cháo, đã đóng thành một nửa màng.
Đứng hồi lâu, cô ấy chợt nói: "Tỷ tỷ, chiều nay Liễu Nhứ ra ngoài, rất muộn mới về."
Tôi nói biết rồi.
Cô ấy lại nói: "Lúc cô ấy về bước chân rất nhẹ, như sợ người ta nghe thấy."
Tôi nói biết rồi.