Đêm đó, tôi nằm trằn trọc trên giường ký túc xá không sao ngủ được. Mạc Niệm Niệm, cô bạn nằm giường trên, ló đầu xuống: "Thính Lan, cậu sao thế? Sao lại thở dài?" "Không có gì." "Có phải cậu đang nhớ cậu bạn cùng bàn kia không?" "Không có." Cô ấy cười: "Lừa ai chứ, cậu toàn lén nhìn cậu ấy trong giờ học, cả lớp ai cũng biết rồi, chỉ mình cậu ấy là không biết thôi." Tôi trùm chăn kín đầu, không nói gì nữa. Cô ấy nói đúng. Cả lớp đều biết, trừ cậu ấy.
Tháng Mười một, cuộc thi khởi nghiệp cấp trường diễn ra.
Lớp chúng tôi vốn chẳng có ai đăng ký. Giáo viên chủ nhiệm thúc giục ba lần trong nhóm chat, không ai trả lời. Cuối cùng, thầy chỉ đích danh: "Lục Hành Chu, em làm đi." Lục Hành Chu im lặng vài giây rồi nói: "Vâng." Chỉ một từ duy nhất.
Ngày thi, tôi ngồi dưới khán đài. Chủ đề là "Phương án đổi mới hệ sinh thái kinh tế học đường", mỗi đội năm phút, ban giám khảo là ba giáo sư trường kinh doanh. Những đội trước thuyết trình khá tốt, PPT làm rất bắt mắt, dữ liệu biểu đồ đầy đủ. Lục Hành Chu là người cuối cùng lên sân khấu, trên tay cầm một tờ giấy A4, trên đó viết vài dòng chữ. Ban giám khảo nhíu mày, dưới khán đài có người cười khẽ: "Thế này thì xoàng quá."
Cậu ấy đứng giữa bục giảng, không nhìn tờ giấy đó: "Chi phí sinh hoạt trung bình hàng tháng của sinh viên năm nhất là từ một nghìn rưỡi đến hai nghìn tệ, nhưng có 12% sinh viên, chi phí mỗi tháng không quá tám trăm. Cơm hộp ở căng tin thấp nhất là sáu tệ, một ngày ba bữa, một tháng ít nhất năm trăm bốn mươi tệ. Số tiền còn lại phải m/ua giáo trình, nộp tiền mạng, chi trả cho mọi khoản phát sinh ngoài ý muốn. Vì vậy, nhóm sinh viên này không ăn sáng, không đến căng tin, chỉ gồng mình bằng bánh bao và nước lọc."
"Phương án của tôi rất đơn giản: Thiết lập một kênh nạp tiền hỗ trợ ẩn danh tại căng tin. Người nạp tiền không biết tiền cho ai, người nhận tiền không biết tiền từ đâu mà có. Không có cảm giác bố thí, cũng không có cảm giác n/ợ nần." Cậu ấy dừng lại một chút, "Cách tốt nhất để giúp một người, là khiến họ không cảm thấy mình đang được giúp đỡ."
Dưới khán đài lặng ngắt. Ban giám khảo đặt bút xuống. Sau vài giây, giáo sư Trương nghiêm khắc nhất lên tiếng: "Dữ liệu lấy từ đâu?"
"Hồ sơ quẹt thẻ ở căng tin, có thể kiểm tra tỷ lệ sinh viên tiêu dùng dưới mười lăm tệ mỗi ngày, ẩn danh và đã lược bỏ thông tin cá nhân, không liên quan đến quyền riêng tư."
"Đã phân tích tính khả thi chưa?"
"Đã làm, hạch toán chi phí, quy trình vận hành, lộ trình quảng bá đều ở trên giấy."
Giáo sư Trương xem một phút rồi ngẩng đầu lên: "Phương án này, chắc là do chính trải nghiệm của em thúc đẩy nhỉ?"
Cậu ấy không trả lời. Sự im lặng vốn dĩ đã là câu trả lời.
Kết quả không có gì bất ngờ. Giải Nhất. Một người không dùng PPT đã chiến thắng mười hai đội thi có đầy đủ nhân sự. Sau khi tan cuộc, các bạn học vây quanh cậu ấy trò chuyện, cậu ấy đáp lại vài câu rồi rời đi. Tôi ngồi ở hàng cuối không động đậy, ngồi mãi cho đến khi dưới khán đài vắng tanh. Bởi vì câu nói đó của cậu ấy cứ xoay vần trong đầu tôi: Cách tốt nhất để giúp một người, là khiến họ không cảm thấy mình đang được giúp đỡ.
Cậu ấy không biết rằng, tất cả những gì tôi làm sau đó đều tuân theo câu nói này.
Cuối tuần sau cuộc thi, tôi mới biết cuộc sống của Lục Hành Chu khó khăn đến nhường nào.
Chiều thứ Bảy, tôi đi ngang qua sạp sách cũ ở con phố sau trường, thấy cậu ấy đang ngồi xổm trước sạp, cầm ba cuốn sách trên tay, đang mặc cả với chủ sạp: "Ba cuốn này bảo quản tốt, là giáo trình bản gốc, tôi đã làm trọn bộ ghi chú, bản thân ghi chú đó đã có giá trị rồi..." "Sách cũ thì không xem cái đó, ba cuốn năm mươi."
"Năm mươi ít quá."
"Sáu mươi, nhiều hơn không lấy."
Cậu ấy dừng lại một chút: "Sáu mươi thì sáu mươi." Rồi đặt sách xuống, nhận lấy mấy tờ tiền, cúi đầu đếm kỹ, nhét vào túi quần, quay người bước đi, bước chân rất nhanh.
Tôi trốn ở cửa tiệm văn phòng phẩm bên cạnh, gói hàng trên tay suýt rơi xuống đất. Trưa hôm sau, tôi cố tình đến căng tin tìm cậu ấy, cậu ấy không có ở đó. Cuối cùng tìm thấy cậu ấy ở tòa nhà giảng đường: hàng cuối cùng, trên bàn là một túi nhựa trắng, bên trong có hai cái bánh bao, ăn kèm với nước lọc trong bình giữ nhiệt, vừa bẻ vừa ăn. Các bạn bên cạnh đang tán gẫu về việc đi ăn lẩu trưa nay, cậu ấy không nói một lời, cắn một miếng bánh bao, lật một trang sách. Tôi đứng ở cửa sau, không bước vào, lùi lại góc hành lang, dựa tường đứng rất lâu.
Sau đó tôi lại theo dõi một lần nữa. Bốn giờ rưỡi chiều thứ Tư tan học, cậu ấy đạp một chiếc xe đạp cũ, xích kêu lạch cạch, băng qua nửa thành phố, dừng lại trước cửa một tiệm thức ăn nhanh chuỗi. Cậu ấy lấy bộ đồng phục từ trong cặp ra, thay ngay tại cửa rồi đẩy cửa bước vào. Tôi ngồi trên ghế dài ở trạm xe buýt bên kia đường, nhìn cậu ấy bưng khay, lau bàn, thu ngân. Nhìn mãi đến tận mười một giờ đêm, cậu ấy mới bước ra, cởi đồng phục nhét vào cặp, đạp xe rời đi. Ánh trăng kéo dài cái bóng của cậu ấy ra rất xa.
Tôi ngồi trên ghế dài, nước mắt đầm đìa. Không phải vì buồn, mà là cảm thấy thế giới này thật bất công. Cậu ấy giỏi giang như vậy, kiêu hãnh như vậy, thắng cả cuộc thi khởi nghiệp, mà tan học vẫn phải đi bưng bê. Đêm đó, tôi đưa ra một quyết định: Tôi phải giúp cậu ấy. Dùng cách của chính cậu ấy, khiến cậu ấy không cảm thấy mình đang được giúp đỡ.
Lần đầu tiên ra tay là một ngày thứ Năm cuối tháng Mười một.
Chiều hôm đó, Lục Hành Chu bị giáo viên chủ nhiệm gọi lên văn phòng điền hồ sơ. Lúc đi cậu ấy không mang theo cặp sách, thẻ ăn kẹp giữa bìa và trang đầu của cuốn "Kinh tế học vi mô". Tôi biết—tôi đã quan sát cậu ấy hai tuần, biết thẻ ăn của cậu ấy để ở đâu. Trong lớp vẫn còn vài người đang dọn đồ, tôi giả vờ thu dọn cặp sách, tay trái rút thẻ ra, nắm ch/ặt trong lòng bàn tay.