Trong chiếc hộp nhung trên bàn trà, sợi dây chuyền nằm yên lành.
Anh đã mang nó đến Kinh Thành, rồi lại mang về.
Anh sợ rằng mình đi chuyến này, khi trở về cô sẽ không còn ở đó nữa.
Nên anh đã lấy đi thứ mà cô coi trọng nhất, rồi để lại một mảnh giấy.
Anh nói trong vòng nửa tháng sẽ chuộc về, chẳng qua là muốn tự tìm cho mình một lý do nhất định phải trở về.
Anh luôn tự nhủ với mình rằng, cô sẽ không đi.
Nhưng anh chính là không yên tâm.
Cụ già rút ra từ dưới đáy cặp tài liệu một xấp giấy dày cộm, ném trước mặt anh.
"Mấy thứ này, ban đầu định cho con xem rõ ràng trước khi con bé đi. Chính con cứ phải chạy đến Kinh Thành chuyến này."
Đó là đơn xin từ chức do chính Thẩm Tuế Ninh nộp.
Là báo cáo khám sức khỏe với tất cả các chỉ số hoàn toàn bình thường của mẹ cô ta.
Là biên bản lời khai của nhân chứng ngoài cổng quân doanh về việc cô ta dán đơn ly hôn.
Rất nhiều chuyện, từng mảnh từng mảnh, từng việc từng việc.
Hạ Vọng Thư mặt trắng bệch đọc xong, ngón tay run đến mức gần như không cầm nổi tờ giấy.
Anh quay người định xông ra ngoài, cụ già ở phía sau thản nhiên nói: "Lúc này con có b/ắn ch*t hai mẹ con họ Thẩm, có quỳ sập cái sân này, thì cô ấy còn có thể trở về nữa không?"
Hạ Vọng Thư cứng đờ người ở cửa.
Một lúc lâu, anh lảo đảo bước ra giữa sân.
Đêm đông, ánh trăng trong vắt.
Anh lại nhớ về đêm đó.
Cô ấy quỳ cùng anh trong tuyết.
Cô ấy bị anh chọc tức đến nửa ch*t, cãi hờn nói: "Tôi cũng chẳng thèm gả cho anh."
Ngựk anh như bị đ/âm một nhát, tức đến mức muốn trả miếng lại y nguyên, ánh mắt vừa liếc qua, lại nhìn thấy trước khuôn mặt trắng nhợt vì rét của cô trước.
Đột nhiên anh hoảng hốt.
Lời mỉa mai đến bên miệng, mãi không thốt ra được nữa.
Anh nhẫn nại nỗi khó chịu trong lòng, gọi cô một tiếng: "Khương Sơ."
Cô ấy nghiêng đầu, đôi mắt mờ ảo nhìn anh.
Anh vốn muốn nói: "Cô gả rồi thì gả, tôi có chỗ nào không tốt, cô mở miệng, tôi sửa."
Nhưng anh vẫn cứng đầu, nghẹn hồi lâu, cuối cùng chỉ nói được một câu: "Tôi miễn cưỡng, đều sửa hết, được chưa?"
Mà cô ấy đúng vào khoảnh khắc đó, đổ ập xuống trong tuyết.
Tuyết đêm đó lớn như vậy, anh lại không thấy lạnh.
Anh nghĩ, bọn họ còn có một tương lai rất dài, rất dài.
Thế nhưng đêm nay, đêm không gió không trăng thế này, anh lại đột nhiên lạnh đến mức tận xươ/ng tủy đều r/un r/ẩy.
Anh đứng rất lâu, cuối cùng chậm rãi ngồi xổm xuống, vùi mặt vào lòng bàn tay, dần dần r/un r/ẩy.
Anh biết, bọn họ không còn tương lai nữa rồi.
Cô ấy thật sự, sẽ không bao giờ trở lại nữa.
Tôi gặp lại Hạ Vọng Thư là bảy năm sau.
Năm 1986.
Cuộc chiến tranh phản kích biên giới bảy năm trước đã kết thúc từ lâu, nước ta giành được thắng lợi hoàn toàn.
Lúc đó tôi ở lại phương Nam, tiếp tục làm một quân y.
Vùng biên dần yên ổn, tôi được điều về Tân Thành.
Tôi bưng một hũ tro cốt của một người, ngồi lên chuyến tàu hồi hương.
Hai mươi mốt năm trước, chị ấy đưa tro cốt anh trai tôi trở về, hỏi tôi: "Em gái nhỏ, đi cùng chị nhé?"
Bây giờ tôi nhìn chiếc hộp sơn mài đen trong lòng, khẽ hỏi: "Chị có nguyện ý về Tân Thành với em không? Em sẽ đưa chị đi đoàn tụ với anh trai."
Chị ấy là một cô nhi, giống như anh trai tôi.
Tàu lạch cạch chạy, không có tiếng vọng nào.
Đoàn tàu chạy qua núi non và đồng ruộng, tôi nhìn qua cửa sổ xe ngắm nghìn dặm sơn hà yên lành, bỗng nhiên nhớ đến đêm trăng hôm đó.
Tôi và chị ngồi trên sườn đồi nhỏ ngắm trăng.
Mảnh đất đã trải qua lửa đạn ngổn ngang tang thương, chỉ có ánh trăng vẫn trong sáng như xưa.
Trên cầu vai chị, đã mang ngôi sao phó đoàn trưởng.
Chị nói: "Ước nguyện lớn nhất của A Phong là làm đoàn trưởng. Đợi đá/nh xong trận này, em sẽ thay anh ấy đeo nó."
Chị kể về lần đầu gặp gỡ, về cuộc tình yêu nồng ch/áy với anh trai tôi, rồi bỗng dưng im bặt vì một tiếng sú/ng đột ngột.
Ánh trăng như nước, tràn ngập núi đồi.
Tôi hỏi chị: "M/ộ Vân, chị có nhớ anh ấy không?"
Chị ngẩng đầu nhìn trăng, thản nhiên nói: "Vẫn ổn."
Tôi nói: "Em rất nhớ anh ấy."
Chị rất lâu không nói gì.
Đợi đến khi trăng lặn xuống núi, chị đột nhiên quay đầu lại, ôm lấy tôi, trán tựa vào vai tôi: "Em cũng vậy."
Ngày hôm sau, chị hy sinh.
Trở về Tân Thành, tôi nộp báo cáo, được phê duyệt, tro cốt chị được an táng cùng với anh trai tôi trong cùng một nghĩa trang.
Tôi chọn hai phần m/ộ gần nhau nhất.
Ngày an táng, tôi cầm hai bó hoa, một bó đặt trước bia m/ộ chị, một bó đặt trước bia m/ộ anh trai.
Lúc rời đi trời đã tối hẳn.
Ở cổng nghĩa trang, dưới ánh đèn đường mờ mịt, tôi nhìn thấy từ xa một người.
Rất quen mắt, nhưng lại dường như cách xa rất xa so với hình dáng trong ký ức.
Ánh sáng tối, tôi không nhìn rõ, bèn dừng lại tại chỗ.
Người đó lại có chút sốt ruột bước tới, ở cách tôi hai bước, đành dừng sự.
Cuối cùng tôi cũng nhìn rõ, bên thái dương anh đã điểm vài sợi tóc bạc.
Năm nay tôi ba mươi bốn tuổi, anh đã ngoài bốn mươi.
Trên tay anh cầm một bó cúc trắng, gương mặt lộ vẻ lúng túng hoảng hốt không xứng với tuổi tác.
Anh kéo kéo khóe miệng: "Em... em đã trở về rồi."
Tôi bỗng nhiên nhớ đến đêm tuyết bảy năm trước, anh bế xốc tôi đang hôn mê, đôi ủng quân đội giẫm trên tuyết kêu lạo xạo.
Tôi im lặng một lúc, chỉ nói: "Vâng, đã trở về."
Lời vừa dứt, lại là một khoảng im lặng dài.
Tôi đang định tìm cớ rời đi, anh lại mở miệng: "Tôi đến thăm anh trai em. Không có ý gì khác, chỉ là... thăm anh ấy một chút."
Tôi sững người, đáp: "Cảm ơn anh."
Hàng mi anh run run, dường như có chút đ/au lòng.