Trong thành Biện Kinh đâu đâu cũng vang tiếng pháo, trẻ con chạy nhảy khắp phố phường, tay cầm kẹo mạch nha và kẹo Quan Đông, miệng hát vang bài đồng d/ao "Hai mươi ba, kẹo mạch nha dính".
Các cửa tiệm trên phố Tây phần lớn đã đóng cửa, người làm công đều về nhà ăn Tết.
Đây là cái Tết đầu tiên chúng tôi trải qua trong cửa tiệm nhỏ này, nay việc làm ăn đã ổn định, túi tiền cũng dư dả hơn chút ít, nên chúng tôi muốn chuẩn bị cho chu đáo hơn.
Tôi cũng dậy từ sớm đóng cửa tiệm, nghỉ kinh doanh, cả nhà yên tâm ở lại trong sân nhỏ chuẩn bị đón năm mới.
Sau bữa sáng, tôi đi chợ m/ua sắm rất nhiều thứ: giấy đỏ, tranh dán cửa, câu đối Tết, những chiếc đèn lồng đỏ nhỏ, cùng với dây buộc tóc mới và bánh kẹo cho Đường Đường.
Gạo, bột, dầu, muối được tích trữ đầy ắp, th!t khô, cá khô, rau khô được xếp từng sọt từng sọt, ngay cả nước tương, giấm gạo trong bếp cũng được m/ua mới.
Trong hậu viện, bếp lửa ch/áy hừng hực, hơi nóng làm người ta thấy sảng khoái.
Vân dì bận rộn bên bếp, hầm canh xươ/ng, lại hấp mấy xửng bánh tổ, mùi thơm ngọt lẫn với mùi th!t thơm lừng lan tỏa khắp sân.
Tôi và Lăng nhi ngồi bên bàn, c/ắt giấy đỏ, viết chữ "Phúc", từng nét từng nét viết rất cẩn thận, dự định lát nữa sẽ dán lên cửa, lên cửa sổ, cầu mong một năm mới hồng phát, cát tường.
Bốn người chen chúc trong sân nhỏ không lớn, người nói một câu, kẻ đáp một lời, tay không ngừng nghỉ, miệng cũng rôm rả.
Sau Tết vào xuân, thời tiết dần ấm áp, Đường Đường cũng đã hơn năm tuổi, tôi bèn tìm một lớp học vỡ lòng gần đó có tiếng tăm ổn định, đưa con bé đến học chữ.
Việc này tôi đã suy nghĩ hơn nửa năm nay.
Đường Đường ngày một lớn, suốt ngày chạy nhảy đi/ên cuồ/ng trong tiệm, tuy có thể giúp đỡ đưa bát đũa gì đó, nhưng trong lòng tôi vẫn không thấy yên tâm.
Vân dì xuất thân tiểu thư đài các, thông hiểu lễ nghĩa, riêng tư cũng dạy Đường Đường nhận biết được vài chữ, nhưng rốt cuộc cũng không phải là thầy giáo chính quy.
Từ phố Tây Biện Kinh đi về phía Nam hai con hẻm, có một tư thục, thầy giáo họ Lục,
là một tú tài nghèo ngoài năm mươi tuổi, học vấn không tính là xuất chúng, nhưng dạy mấy đứa trẻ vỡ lòng thì dư sức.
Ngày đầu tiên Đường Đường đến lớp, trời chưa sáng đã tỉnh.
Nó lăn lộn trên giường như một con sâu nhỏ, lăn qua lăn lại làm Lăng nhi cũng tỉnh giấc.
Lăng nhi mơ màng hỏi nó sao vậy, nó bảo: "Nhị tỷ tỷ, hôm nay con được đi học rồi, con không ngủ được."
Bị nó làm cho mất ngủ, Lăng nhi bèn dậy chải đầu cho nó.
Trên đường đưa Đường Đường đến lớp, nó nắm tay tôi, đôi chân ngắn cũn bước đi thoăn thoắt, tôi suýt chút nữa không theo kịp.
Nó líu lo nói không ngừng suốt dọc đường: "A tỷ, thầy giáo có dữ không ạ?"
"A tỷ, bạn học khác có b/ắt n/ạt con không ạ?"
"A tỷ, nếu con không thuộc bài thì phải làm sao ạ?"
Tôi bảo: "Thầy giáo không dữ, bạn học sẽ không b/ắt n/ạt con, con chắc chắn sẽ thuộc bài."
"Sao chị biết ạ?"
"Vì Đường Đường của chúng ta thông minh lắm mà."
Đường Đường nghe vậy, ưỡn ngựk bước đi nhanh hơn.
Nó học hành rất chăm chỉ, mỗi ngày tan học về, quăng cặp sách xuống là bê ngay ghế nhỏ ngồi vào góc tiệm,
viết những chữ đã học trong ngày lên một tấm bảng gỗ cũ.
Bảng gỗ viết đầy, nó lại dùng khăn ướt lau đi viết lại, hết lần này đến lần khác, viết đến tận tối mịt.
Có những lúc khách đông, trong tiệm ồn ào, nó cũng không bị ảnh hưởng, cứ cúi đầu, viết từng nét từng nét, đôi lông mày nhỏ hơi nhíu lại, dáng vẻ nghiêm túc như một người lớn nhỏ.
Bà lão nọ dạo này đến thường xuyên hơn trước, luôn đến vào tầm chiều tối, khi mặt trời vừa lặn, trời chưa tối hẳn.
Trong tiệm khách đang đông, ồn ào náo nhiệt, bà chậm rãi bước vào, không vội gọi hoằn thơn, trước tiên tìm một chỗ góc khuất ngồi xuống, lặng lẽ nhìn Đường Đường học bài.
Bà mặc đồ giản dị, chỉ màu xám hoặc nâu, chất liệu tốt nhưng không hề phô trương.
Đường Đường đang học thuộc lòng "Hương cửu linh, năng ôn tịch".
Bà lão nghe một lúc, bỗng lên tiếng: "Cô bé, 'Hương cửu linh, năng ôn tịch', chữ 'ôn' này, cháu có biết nghĩa là gì không?"
Đường Đường dừng học, suy nghĩ một chút rồi đáp: "Ôn nghĩa là... trời lạnh, dùng thân thể mình làm ấm chăn đệm trước, rồi mới để cha mẹ nằm."
Bà lão gật đầu: "Vậy cháu nói xem, tại sao Hoàng Hương lại phải làm như vậy?"
Đường Đường lại suy nghĩ,
nói: "Vì bạn ấy hiếu thảo ạ. Để cha mẹ ấm áp, bản thân bạn ấy mới thấy an lòng."
Bà lão khẽ cười, không hỏi thêm nữa, bưng bát hoằn thơn lên chậm rãi thưởng thức.
Sau đó bà lão cứ vài ba hôm lại đến, ăn xong hoằn thơn lại ngồi ở góc nhìn Đường Đường học bài, nghe xong lại hỏi vài câu hỏi.
Câu hỏi ngày càng khó, có lúc Đường Đường trả lời được, có lúc không.
Những lúc không trả lời được, bà lão cũng không vội, chỉ nói một câu "Về nhà suy nghĩ đi, lần sau nói cho ta biết", rồi lại ra về.
Để trả lời câu hỏi của bà lão, Đường Đường bắt đầu chủ động tìm sách đọc.
Trong tư thục của thầy Lục có vài cuốn sách cũ, Đường Đường tan học là tìm đọc, đọc xong còn tìm thầy Lục hỏi.
Thầy Lục thấy lạ, hỏi nó: "Cháu là đứa trẻ con, hỏi những thứ này để làm gì?"
Đường Đường đáp: "Có một bà nội hỏi con, con phải trả lời được ạ."
Đường Đường rất quý bà lão, còn lấy chữ mình viết đưa bà xem.
Bà lão đón lấy nhìn một lúc: "Chữ 'chi' này, nét khởi đầu phải nhẹ hơn một chút, nét mác phải dài hơn một chút. Cháu nhìn xem, viết như thế này có phải đẹp hơn không?"