Trong khoảng thời gian đó, bất kể tôi đến nhà ăn hay lên lớp, luôn có những ánh mắt dõi theo: “Chính là con nhỏ đạo văn đó phải không, tư cách bảo lưu lên thạc sĩ bị tước rồi đấy?” “Thật không biết x/ấu hổ, nghe nói ý tưởng cốt lõi của bài báo đó là do học trưởng Lục và Nguyễn Tư D/ao cùng nghĩ ra mà?” “Tên còn treo trên tạp chí kìa, sao cô ta dám chép nguyên văn chứ?” “Viện trưởng Quách thậm chí còn không gửi đi thẩm định vòng hai, trực tiếp cho điểm D.” “Còn mặt mũi ở lại trường học lại, là tôi thì tôi đã bỏ học từ lâu rồi.” “Nghe nói ban đầu cô ta muốn tìm giáo sư Thẩm làm người hướng dẫn, giờ thì hay rồi, giáo sư Thẩm đích thân chỉ đích danh không nhận những sinh viên vi phạm đạo đức học thuật.” “Học trưởng Lục cũng thật tốt bụng, vậy mà cô ta còn chê anh ấy giúp đổi đề tài, không biết đang giở chứng gì nữa.”
Thực ra không phải là không đ/au lòng. Những ngày đó cứ hễ đêm xuống, trong đầu tôi toàn là những lời nói đó, lặp đi lặp lại như con d/ao cùn cứa vào da th!t. Nếu không nhờ vị nữ giáo sư hướng dẫn sau này hết lòng bảo vệ, có lẽ tôi đã lặng lẽ rời khỏi trường, rời bỏ toán học từ lâu.
Chỉ có một điều tôi mãi vẫn không thông suốt: Tôi chưa bao giờ tiết lộ phương pháp giải của mình cho bất kỳ ai, ngay cả Hạ Tắc Ngôn cũng chỉ biết đại khái. Bài luận văn đó của Nguyễn Tư D/ao, sao có thể có tư duy gần với tôi đến vậy?
Giờ đây, tôi cuối cùng đã biết câu trả lời.
Trong cuốn sổ tay của tôi, từng ghi lại những quá trình và tư duy đó. Hạ Tắc Ngôn đã lật xem qua, nhưng chưa bao giờ thực sự đọc hiểu. Trong mắt anh, tôi có lẽ vẫn là cô gái không có thiên phú, chỉ biết cắm đầu học vẹt, nỗ lực một cách m/ù quá/ng như hồi cấp ba. Người thực sự đọc kỹ cuốn sổ đó chính là Nguyễn Tư D/ao.
Ba năm trôi qua. Tôi nên nói gì đây? Tôi không biết.
Tôi nhìn vào mắt Hạ Tắc Ngôn, giọng điệu bình thản mà trống rỗng: “Hạ Tắc Ngôn, chúng ta chia tay đi.”
9
Trên đường trở về, trời bắt đầu đổ cơn mưa lớn. Tôi ôm cuốn sổ tay tơi tả, đứng dưới trạm xe buýt. Những sợi mưa theo gió quét chéo qua, làm ướt đẫm các trang giấy. Hàm số hình trái tim từng rất rõ nét trên trang bìa nay đã bị nước canh thấm nhòe, mặt giấy ố vàng dần dần không còn nhìn rõ chữ.
Một cảm giác cô đ/ộc chưa từng có ập đến, đ/è nặng lên tâm trí.
Anh ấy thực sự không nhớ gì cả. Thực ra, cuốn sổ tay này vốn dĩ là do anh tặng tôi.
Tôi biết, hầu hết bạn bè thời đại học của Hạ Tắc Ngôn đều cảm thấy tôi yêu anh đến ch*t đi sống lại. Họ đôi khi đùa cợt hỏi tôi: “Người như cậu ta, rốt cuộc cậu yêu điểm nào ở cậu ta vậy?”
Phải rồi, tôi cũng không biết phải thuyết phục họ thế nào. Nhưng tôi đúng là đã yêu đến mức không còn lối thoát. Ít nhất là đã từng yêu đi/ên cuồ/ng cậu thiếu niên mười bảy tuổi năm ấy.
Chúng tôi lần đầu gặp nhau tại một trại huấn luyện toán học.
Khi đó anh ở lớp chọn đặc biệt, tôi ở lớp song song. Vốn dĩ là hai đường thẳng song song không bao giờ giao nhau, vậy mà vào mùa hè năm ấy lại chệch hướng, đan xen vào nhau. Ban đầu tôi cũng chẳng thích toán đến thế, chỉ là lớp chúng tôi tình cờ được phân một suất tham dự, mà nghe nói đạt thứ hạng trong kỳ thi sẽ được tuyển thẳng.
Ôm chút tư tâm đó, tôi đến trại huấn luyện. Và rồi, tôi gặp thiếu niên Hạ Tắc Ngôn — một kỳ tích sống trong thế giới toán học.
Mỗi kỳ thi anh đều là người nộp bài đầu tiên, câu hỏi phụ cuối cùng, anh luôn tìm ra những cách giải khiến người ta không thể ngờ tới.
“Tôi yêu toán học vì vẻ đẹp và sự tự do của nó.” Đây là câu nói đầu tiên anh viết trong cuốn sổ tay của mình.
Trong trại huấn luyện, tôi cắn đầu bút đ/au khổ hỏi anh: “Toán khó thế này, tại sao cậu vẫn có thể vui vẻ như vậy?”
“Vì vẻ đẹp của nó đấy.”
“Hả?”
Anh mỉm cười đáp: “Vì quá trình giải đề chính là quá trình dùng công thức để khám phá ra cái đẹp. Cậu sẽ nhận ra, trong tất cả các cách giải, cách tốt nhất thường là cách đơn giản nhất. Từ định lý Pythagoras đến dãy số Fibonacci, từ phương trình năng lượng của Einstein đến sao Diêm Vương — nhân loại khám phá định luật, kiểm chứng định luật, sử dụng định luật. Cậu biết sao Diêm Vương không? Nó cô đ/ộc đợi chờ trong góc khuất của vũ trụ, đợi suốt hàng tỷ năm, chỉ để chờ nhân loại chúng ta dùng toán học tìm ra nó. Không có gì lãng mạn hơn thế đâu.”
Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi không còn gh/ét toán học nữa. Giọng nói trong trẻo của thiếu niên ấy biến những bài toán thi cử khô khan trở nên sinh động và dịu dàng đến lạ.
Tôi ngưỡng m/ộ tài năng của anh, hóa ra thực sự có người tỏa sáng rực rỡ trong lĩnh vực mà mình yêu thích.
“Vậy cậu có bao giờ gặp bài toán không giải được không?”
“Có chứ.” Anh mỉm cười đáp.
“Bài nào vậy?”
“Bí mật. Đợi khi nào cậu giành được tư cách vào vòng chung kết, tôi sẽ nói cho cậu biết.”
Anh chống hai tay lên lan can, nhảy xuống, quay đầu nhìn tôi cười đầy kiêu hãnh và phóng khoáng: “Tống Tri Vi lớp song song, tôi đợi cậu ở lớp một!”
Chim bay đuổi theo phương xa, hành tinh quay theo ánh mặt trời. Ngày đó, tôi hướng về bóng lưng anh, hét lên câu nói lớn nhất cuộc đời mình: “Được, cậu chờ tôi đấy!”
Nửa năm còn lại của lớp mười một, tôi chưa từng nỗ lực đến thế. Tôi rất cảm ơn Hạ Tắc Ngôn, vì anh đủ rực rỡ, nên viên sỏi tầm thường như tôi mới bắt đầu chuyển động với tốc độ chưa từng có.
Hạng tám mươi, hạng năm mươi, hạng hai mươi. Ba tháng sau, tôi thi đỗ vào lớp chọn đặc biệt. Nửa năm sau, tôi lần thứ hai tham gia kỳ thi toán. Đến năm lớp mười hai, tôi đã toại nguyện, được ngồi ngay cạnh anh.
Đó là hình ảnh viên mãn nhất trong giấc mơ của tôi. Anh như một mặt trời luôn kiêu hãnh, còn tôi như một tiểu hành tinh rơi vào quỹ đạo của anh.