Vào ngày mừng thọ sáu mươi tuổi của mẹ chồng, trước mặt đông đủ họ hàng, bà đã trao tiệm lụa đắt khách nhất ở phía nam thành cho em dâu.
“Tố Nương hầu hạ th/uốc thang suốt ba năm, bưng trà dâng th/uốc, chưa từng than lấy một lời. Cửa tiệm này, con bé xứng đáng được nhận.”
Em dâu đỏ hoe mắt quỳ xuống, nói rằng mình chỉ làm tròn bổn phận, tuyệt đối không dám nhận. Mẹ chồng đích thân nhét khế ước cửa tiệm vào tay nó, mọi người xung quanh đều không ngớt lời khen ngợi nó hiếu thảo.
Chẳng ai nhớ rằng, số tiền th/uốc thang hai mươi bảy lượng mỗi tháng của mẹ chồng đều được chi trả từ tiệm th/uốc trong của hồi môn của tôi.
Ngày hôm sau, tôi cho tiệm th/uốc dừng sổ n/ợ riêng của nhà họ Tạ.
Em dâu ôm hộp th/uốc trống không đến hỏi tôi: “Chị dâu, người một nhà sao phải tính toán rạ/ch ròi đến thế?”
Tôi đưa cho nó phương th/uốc mới kê.
“Mẹ đã cho em cửa tiệm rồi. Sau này, lòng hiếu thảo cũng nên ghi dưới tên em.”
Tiệc mừng thọ của mẹ chồng kéo dài đến canh hai, đèn ở Tùng Hạc đường vẫn còn sáng.
Liễu Tố Nương quỳ trước sập, đ/ấm chân cho mẹ chồng. Chiếc áo khoác màu xanh đ/á nó đang mặc là do tôi sai thợ may gấp rút làm, cổ tay áo dính một chút nước th/uốc, trông vô cùng tận tụy.
Các vị thẩm nương trong tộc vây quanh, hết lời khen nó tâm lý.
“Vợ Nhị lang mới vào cửa ba năm mà còn chu đáo hơn cả con gái ruột.”
“Chẳng phải sao. Những lúc lão phu nhân bị đ/au đầu, con bé có thể thức trắng đêm để trông nom.”
Mẹ chồng nghe vậy vô cùng hài lòng, liền lấy khế ước của Cẩm Vân Trang ở phía nam thành ra.
Cửa tiệm đó mỗi năm thu nhập ít nhất cũng ba trăm lượng, là tài sản giá trị nhất của nhà họ Tạ hiện giờ.
Chồng tôi, Tạ Thừa Lễ, ngồi bên phía nam giới, thấy động tĩnh chỉ liếc nhìn tôi một cái.
Trước khi đến dự tiệc, anh ta đã bàn với tôi.
“Bổng lộc của nhị đệ ít ỏi, Tố Nương lại hầu hạ mẹ nhiều năm. Cửa tiệm đưa cho họ, nàng đừng tính toán làm gì.”
Tôi hỏi: “Vậy tiền th/uốc thang của mẹ sau này thì sao?”
Anh ta đang thắt đai lưng, không ngoảnh đầu lại.
“Tự nhiên vẫn là nàng lo. Hồi Xuân đường của nhà mẹ đẻ nàng lấy th/uốc thuận tiện, cũng chẳng đáng bao nhiêu bạc.”
Lúc đó tôi không đáp lại anh ta.
Trước đây nếu anh ta nói những lời này, phần lớn tôi đều sẽ đồng ý.
Không phải vì tôi thực sự không quan tâm đến bạc, mà bởi chúng tôi đã thành thân nhiều năm, không phải lúc nào cũng lạnh nhạt như thế này.
Khi Tĩnh Thư chào đời, tôi bị khó sinh, anh ta đã canh giữ bên ngoài phòng sinh suốt một đêm. Năm năm trước tôi bị sảy th/ai, mẹ chồng cũng đích thân canh chừng tôi hai đêm liền. Những ân tình đó, tôi vẫn luôn khắc ghi trong lòng.
Tôi luôn nghĩ vợ chồng là một thể, anh ta ở ngoài gánh vác gia tộc, tôi thay anh ta quản lý việc nhà, phụng dưỡng mẹ, cũng là thay chúng tôi giữ gìn ngôi nhà này.
Chỉ là về sau, câu nói “Có nàng ở đây, ta yên tâm” của anh ta, dần dần biến thành mọi chuyện đều do tôi gánh vác.
Lúc này, khế ước cửa tiệm đã rơi vào tay Liễu Tố Nương.
Nó từ chối hai lần, lần thứ ba liền dùng cả hai tay đón lấy, khóc nói: “Con dâu chăm sóc mẹ, không mưu cầu những thứ này.”
Mẹ chồng vỗ vỗ tay nó.
“Con không mưu cầu, nhưng mẹ không thể để con chịu thiệt.”
Cả căn phòng đều gật đầu.
Nha hoàn Xuân Hạnh của tôi đứng phía sau, tức đến mức bóp nát cả sổ quà đáp lễ thành một nếp gấp.
Tôi lắc đầu với con bé.
Tiệc mừng thọ này tổ chức ba mươi sáu bàn. Cỗ bàn, gánh hát, quà đáp lễ và rư/ợu nước đều qua tay tôi, chưa kể khách khứa ở lại qua đêm, bận rộn suốt cả một tháng.
Những việc này chẳng ai khen, cũng không cần khen.
Mẹ chồng vốn dĩ luôn cho rằng, trưởng phòng có quan chức của Thừa Lễ, lại có tiệm th/uốc hồi môn của tôi làm nền tảng, cuộc sống đã dư dả hơn nhị phòng rất nhiều.
Bổng lộc của nhị đệ ít ỏi, nhà mẹ đẻ Tố Nương cũng không giúp được gì, nên bà luôn nói, đồ đạc trong nhà phải bù đắp cho nhị phòng nhiều hơn một chút mới gọi là công bằng.
Còn việc tôi quản gia, bỏ tiền, hầu hạ th/uốc thang, trong mắt bà chỉ là bổn phận mà con dâu trưởng nên làm.
Bà cũng cực kỳ thích nghe người khác khen Tố Nương hiếu thảo. Gia cảnh nhị phòng nghèo khó, thứ duy nhất Tố Nương có thể đem ra khoe ở nhà họ Tạ, dường như cũng chỉ còn lại danh tiếng tốt này.
Tôi chỉ là đột nhiên muốn biết, nếu lòng hiếu thảo hữu hình được thưởng một cửa tiệm, thì những khoản bạc vô hình kia rốt cuộc tính dưới tên ai.
Trở về chính viện, tôi bảo Xuân Hạnh lấy sổ sách riêng của Hồi Xuân đường trong năm năm gần đây.
Có bốn cuốn sổ, mép đã sờn cũ.
Mẹ chồng bị đột quỵ ba năm trước, từ đó mỗi tháng phải uống th/uốc thông lạc. Trời lạnh thêm nhân sâm, mùa hè thay thạch hộc, thỉnh thoảng mời đại phu Tiết ở phía đông thành đến nhà, một lần khám b/ệnh là hai lượng.
Ba năm hai tháng, tổng chi tiêu một nghìn không trăm tám mươi sáu lượng.
Trong đó chín trăm bốn mươi lượng được ghi dưới tên tiệm th/uốc hồi môn của tôi.
Xuân Hạnh càng tính sắc mặt càng tái nhợt.
“Cô nương, đây còn chưa tính tiền thuê xe ban đêm, tiền thưởng cho đại phu và các món bổ dưỡng ở bếp nhỏ Tùng Hạc đường.”
“Không tính nữa.”
Tôi vuốt phẳng trang cuối cùng.
“Trời sáng hãy đến Hồi Xuân đường truyền lời. Nhà họ Tạ đến lấy th/uốc, có thể bốc theo đơn, nhưng không được ghi vào sổ n/ợ riêng của tôi nữa.”
Xuân Hạnh sững sờ một chút, sau đó đáp lại dõng dạc.
“Vâng.”
Con bé đi đến cửa, tôi lại gọi nó lại.
“Th/uốc mẹ thường dùng cứ chuẩn bị đủ ba ngày, đừng để đ/ứt quãng ngay hôm nay.”
Tôi không muốn lấy sức khỏe của mẹ chồng ra để gi/ận dỗi.
Nhưng ba ngày sau, ai muốn làm con hiếu dâu hiền, người đó sẽ phải biết th/uốc đắt đỏ thế nào.