“Nửa tháng đầu tháng này trưởng phòng trực đêm, nửa tháng cuối nhị phòng. Nếu bên nào có việc đột xuất, thì báo trước để đổi với bên kia.”
Mẹ chồng liếc nhìn một cái, hất tập sổ rơi xuống đất.
Những trang giấy bung ra, rơi cạnh lò th/uốc.
Liễu Tố Nương cúi người nhặt, đến trang cuối cùng, đầu ngón tay nó khựng lại trên hai chữ “nhị phòng”.
Đêm đó đến lượt nhị phòng.
Nó ở lại cùng mẹ chồng dùng th/uốc xong thì về, nói là con trai út đêm đến lạ hơi người.
Tùng Hạc đường vẫn là hai mụ già trông đêm.
Sáng sớm hôm sau, trong tộc đã đồn ầm lên, nói tôi vì một cửa tiệm mà tính toán chi li với mẹ chồng đang lâm b/ệnh.
Xuân Hạnh hỏi có cần giải thích không.
“Giải thích cái gì?”
Tôi chép tiền th/uốc, tiền trực đêm và tiền khám vào sổ mới.
“Đợi đến khi số người phải thực sự bỏ tiền túi và thức trắng đêm đông lên, họ sẽ tự khắc biết đây có phải là chuyện nói một câu là xong hay không.”
Ngày thứ bảy nhị phòng tiếp quản, phương th/uốc thay đổi.
Nhân sâm từ ba ngày một tiền đổi thành bảy ngày một tiền, xuyên bối dùng trước kia đổi thành chiết bối rẻ hơn một nửa, mụ già trực đêm cũng bị đuổi việc một người.
Mẹ chồng tức đến mức đ/ập vỡ bát th/uốc.
“Nó không phải là đứa hiếu thảo nhất sao? Giờ đến một tiền sâm cũng không nỡ!”
Chu m/a m/a cúi đầu, không dám đáp lời.
Khi tôi sang tới nơi, Liễu Tố Nương đang ngồi xổm dưới đất nhặt mảnh sứ vỡ.
Tay nó bị cứa một đường, giọt m/áu rơi trên mảnh sứ trắng.
“Tiết đại phu nói gần đây hỏa khí của mẹ vượng, không nên dùng nhân sâm quá thường xuyên.” Nó giải thích: “Chiết bối cũng có thể trị ho, không phải con dâu cố ý tiết kiệm tiền.”
Tôi hỏi: “Đại phu đích thân đổi à?”
“Vâng.”
Chu m/a m/a bỗng ngước mắt lên, rồi nhanh chóng cúi xuống.
Tôi sinh nghi.
Hồi Xuân đường đều lưu lại hồ sơ đơn th/uốc. Xuân Hạnh đi kiểm tra, lại phát hiện trên đơn của Tiết đại phu không hề đổi xuyên bối, chỉ viết bên cạnh dòng chữ “lượng sâm có thể giảm bớt”.
Phản ứng đầu tiên của tôi là Liễu Tố Nương đã sửa đơn th/uốc.
Nhưng nếu bây giờ cầm hồ sơ tới Tùng Hạc đường, nó chỉ cần khóc một trận, nói mình không biết dược liệu, là tiệm th/uốc bốc nhầm, mọi chuyện vẫn sẽ quay về tranh cãi giữa chị em dâu.
Tôi bảo Xuân Hạnh đi tìm cậu tiểu nhị đưa th/uốc.
Tiểu nhị ban đầu không dám nói, cho đến khi chưởng quầy Hồi Xuân đường hứa không trừ tiền công, nó mới thừa nhận là Chu m/a m/a cầm đơn th/uốc đến, đổi xuyên bối thành chiết bối.
“Chu m/a m/a nói, lão phu nhân bảo tiết kiệm một chút. Còn dặn đừng để hai vị phu nhân biết.”
Tôi sững sờ.
Không phải Liễu Tố Nương.
Miệng mẹ chồng m/ắng nó hà tiện, nhưng sau lưng lại giúp nó tiết kiệm tiền.
Tôi đến Tùng Hạc đường, không vạch trần, chỉ hỏi mẹ chồng tại sao lại đuổi mụ già trực đêm.
Bà quay mặt đi.
“Trong phòng lắm người thế này, không cần nuôi thêm kẻ nhàn rỗi.”
“Tháng trước đêm hôm bà dậy từng bị ngã một lần.”
“Đó là do chân trượt.”
“Nếu lại ngã thì sao?”
Mẹ chồng xoay chuỗi hạt trên cổ tay, từng hạt từng hạt quay rất nhanh.
“Ta chưa đến mức quý giá đến nỗi rời xa con là không sống nổi.”
Câu này nghe cứng rắn, nhưng cuối câu đã lộ vẻ yếu thế.
Tôi chợt hiểu ra, không phải bà không biết tiền th/uốc và người hầu đều cần bạc. Bà chỉ sợ Liễu Tố Nương thấy việc phụng dưỡng quá tốn kém, nhận cửa tiệm rồi lại không chịu đến nữa.
Thế nên bà thà bớt đi một vị th/uốc, cũng phải giữ bằng được câu nói “con dâu thứ hiếu thảo nhất”.
Vì chỉ khi câu nói đó đứng vững, việc bà trao Cẩm Vân Trang cho nhị phòng mới được coi là phần thưởng cho lòng hiếu thảo, chứ không phải là thiên vị con út một cách lộ liễu.
Nếu Tố Nương không còn hiếu thảo nữa, những lời bà nói trong tiệc mừng thọ đều trở thành trò cười.
Tôi không vạch trần.
“Ba lượng bạc tiền mụ trực đêm, tháng này trưởng phòng sẽ chi. Nhưng tháng sau vẫn làm theo sổ luân phiên.”
Bà nhìn chằm chằm vào tôi.
“Con đã chịu chi, vậy cần gì phải làm ầm ĩ những ngày qua?”
“Vì ba lượng này là con tự nguyện chi, không phải ai thay con quyết định.”
Mẹ chồng không nghe hiểu, hoặc không muốn hiểu.
Bà nhắm mắt lại, bảo tôi đi đi.
Lúc ra cửa, Liễu Tố Nương đang đợi tôi dưới hành lang.
Tay nó quấn vải trắng, vẻ mặt hơi mệt mỏi.
“Chị dâu có phải nghĩ rằng, là em đổi đơn th/uốc không?”
Tôi dừng lại một chút.
“Phải.”
Nó rõ ràng không ngờ tôi sẽ thừa nhận.
“Ta đã kiểm tra rồi, không phải em. Chuyện đơn th/uốc, ta n/ợ em một lời xin lỗi.”
Nó mím môi.
“Chị dâu tra rõ là tốt rồi.”
Đây là lần đầu tiên chúng tôi nói chuyện mà không ngăn cách bởi nước mắt và những quy tắc xã giao.
Nhưng nó đi được vài bước, lại quay đầu hỏi: “Nếu chị dâu đã biết em không ng/ược đ/ãi mẹ, tiền th/uốc có thể quay lại như cũ không?”
Tôi nhìn vết thương trên tay nó.
“Không thể.”
Sự dịu lại trong mắt nó lại khép ch/ặt.
Nửa tháng sau, tộc trưởng Tạ tam lão thái gia đến phủ.
Ông không phải đến xem b/ệnh, mà là đến khuyên tôi.
Mẹ chồng đã kể chuyện chia tiền th/uốc với người trong tộc.
Đến miệng tam lão thái gia, chuyện đó biến thành việc con dâu trưởng vì chia tài sản không công bằng mà trút gi/ận lên người bề trên đang ốm đ/au.
Tùng Hạc đường ngồi chật kín người nhà họ Tạ.
Tạ Thừa Lễ bảo tôi nhận lỗi trước.
“Người trong tộc đều ở đây. Nàng khôi phục sổ n/ợ cũ đi, mẹ cũng sẽ không truy c/ứu nữa.”
“Truy c/ứu ta chuyện gì?”
“Bất hiếu.”
Khi anh ta nói ra hai chữ này, anh ta không nhìn tôi.
Bốn cuốn sổ tôi mang theo đặt trên đầu gối, mép giấy hằn lên ngón tay.
Tam lão thái gia chậm rãi nhấp một ngụm trà.
“Lệnh Nghi, đàn bà quản gia, kỵ nhất là phân chia chuyện trong nhà quá rạ/ch ròi. Nhà mẹ đẻ con dư dả, giúp đỡ nhà chồng cũng là chuyện đẹp.”
“Lão thái gia nói đúng.”
Tôi đưa cuốn sổ đầu tiên cho quản gia.
“Đây là tiền th/uốc men, tiền khám b/ệnh và tiền trực đêm của mẹ trong ba năm qua, tổng cộng một nghìn không trăm tám mươi sáu lượng. Xin người trong tộc hãy ghi nhận đây là chuyện đẹp của nhà họ Lục.”