“Các bạn theo hướng phim tài liệu qua bên này!”
Tôi ngẩng đầu, nhìn thấy một nữ sinh tóc ngắn đang đứng cạnh cửa xe, giọng nói rất vang.
“Hứa Chi?”
Cô ấy cúi đầu xem danh sách, rồi nhìn tôi: “Cậu là Hứa Chi phải không?”
Tôi gật đầu.
Cô ấy đưa tay đón lấy vali của tôi: “Tớ là Tần Hòa, sinh viên năm hai. Vali của cậu đựng gạch à?”
Tôi sững lại một chút, vội nói: “Tớ tự làm được rồi.”
Tần Hòa đã nhấc vali lên xe, cổ tay dùng lực, bánh xe va vào bậc thềm.
“Đừng khách sáo, đặc quyền ngày đầu tiên của sinh viên mới, qua hôm nay là không ai nuông chiều cậu nữa đâu.”
Nói xong cô ấy cười với tôi, để lộ một chiếc răng khểnh.
Tôi đứng ở cửa xe, tay vẫn nắm ch/ặt căn cước công dân, lòng bàn tay đầy mồ hôi.
Trước kia cũng từng có người giúp tôi.
Nhưng giúp xong, phần lớn sẽ bồi thêm một câu: Hứa Chi, nhớ lần sau m/ua cơm giúp tớ nhé, hoặc Hứa Chi, tiện tay gửi tài liệu đi.
Tần Hòa không đòi hỏi gì cả.
Cô ấy đẩy tôi vào vị trí cạnh cửa sổ: “Ngồi đây đi, dưới luồng gió mát hơn.”
Xe bắt đầu chạy, những cây cầu vượt của thành phố lướt qua ngoài cửa sổ, lá dừa bên đường bị mưa đá/nh cho sáng bóng.
Tôi nhìn những con phố xa lạ, lồng ngựk trống rỗng một mảng, rồi lại được gió từ từ lấp đầy.
Ký túc xá ở tầng sáu, không có thang máy.
Tôi cùng ba nữ sinh khác chuyển hành lý.
Tần Hòa đưa đến dưới lầu thì bị giáo viên gọi đi, trước khi đi còn nhét vào tay tôi một chai nước: “Đừng cố quá, không bê nổi thì gọi người.”
Tôi nói: “Cảm ơn chị ạ.”
Cô ấy xua tay: “Gọi Tần Hòa là được rồi.”
Cửa phòng ký túc xá vừa đẩy ra, một mùi gỗ ván và nước khử trùng xộc vào mũi.
Giường cạnh cửa sổ có dán tên tôi.
Hứa Chi.
Hai chữ viết ngay ngắn trên tờ giấy trắng, dán ở thành giường.
Tôi chạm nhẹ vào tờ giấy đó.
Đây là lần đầu tiên, có một vị trí ngay từ đầu đã viết tên tôi.
Không phải là thứ ai đó bỏ lại.
Không phải là thứ ai đó nhường lại.
Đó là của tôi.
Các bạn cùng phòng lần lượt đến đông đủ.
Một người tên Tô Hà, tóc ngắn ngang vai, mang theo nửa thùng sách.
Một người tên Triệu Doanh, người bản địa Nam Thành, nói năng nhanh nhẹn, tiếng cười có thể xuyên qua hành lang.
Còn một người tên Thiệu Âm, da rám nắng, đeo túi máy ảnh, vừa mở miệng đã hỏi: “Ai trong các cậu biết dựng phim không?”
Tôi giơ tay: “Biết một chút.”
Mắt Thiệu Âm sáng lên: “Tốt quá, tớ có quay vài tư liệu, mà dựng lung tung cả lên.”
Cô ấy đưa máy ảnh cho tôi xem.
Trong màn hình là chợ thị trấn, người dì b/án cá, ông lão sửa ô, đứa trẻ trú mưa dưới mái che.
Khung hình rung lắc, nhưng lại có một sức sống thô sơ.
Tôi không kìm được nói: “Cảnh quay này có thể đặt ở đoạn mở đầu.”
Thiệu Âm ghé sát lại: “Tại sao?”
Tôi nói: “Đứa trẻ cứ nhìn chằm chằm vào ống kính, sau đó ông lão thu ô, nó lại chạy qua, giống như một sợi dây, nối hai cảnh quay lại với nhau.”
Trong ký túc xá yên tĩnh một lúc.
Tô Hà ngẩng đầu lên từ sau cuốn sách: “Cậu quan sát kỹ thật.”
Triệu Doanh vỗ bàn: “Hứa Chi, cậu c/ứu cậu ấy đi, tối qua cậu ấy cho tớ xem mười phút quầy cá, tớ suýt nữa tưởng mình sắp bị b/án đi rồi.”
Thiệu Âm lao tới cấu cô ấy.
Tôi bật cười thành tiếng.
Khi tiếng cười phát ra, chính tôi cũng sững sờ.
Hóa ra cười có thể nhẹ nhàng đến thế, không cần phải nhìn sắc mặt ai trước, không cần x/ác nhận xem có làm phiền người khác hay không.
Buổi tối sau khi tắm rửa xong, tôi ngồi trên giường gọi điện báo bình an cho mẹ.
Bà hỏi: “Bạn cùng phòng có dễ gần không?”
Tôi nói: “Rất tốt ạ.”
Bà nói: “Vậy thì đừng cứ lầm lì, có việc gì thì cứ nói.”
Tôi ừ một tiếng.
Sau khi cúp máy, WeChat hiện lên một tin nhắn.
Chu Nghiên.
“Đến trường rồi à?”
Tôi nhìn chằm chằm vào màn hình.
Ngón tay muốn nhấn vào, rồi lại dừng lại.
Tin nhắn này cách nhau mười mấy tiếng đồng hồ.
Nếu là trước kia, tôi sẽ trả lời ngay lập tức: Đến rồi, ký túc xá khá ổn, bên cậu thế nào?
Sau đó đợi vài tiếng đồng hồ để cậu ấy trả lời một chữ “Ừ”.
Tôi đặt điện thoại xuống bên gối, không trả lời.
Nửa tiếng sau, Lâm Đường gửi một tấm ảnh.
Cổng Đại học Kinh Bắc.
“Chi Chi, tụi tớ làm thủ tục nhập học rồi, còn cậu?”
Trong ảnh, Chu Nghiên đứng cạnh cô ấy, một nửa bờ vai lọt vào khung hình.
Tôi nhấn vào, rồi thoát ra.
Thiệu Âm ở giường dưới gọi: “Hứa Chi, ngày mai cùng đi nhận giáo trình không?”
Tôi thò đầu xuống: “Được.”
Cô ấy nói: “Vậy chốt nhé, ai ngủ nướng người đó mời sữa đậu nành.”
Triệu Doanh tiếp lời ngay: “Tớ uống sữa đậu nành ngọt.”
Tô Hà nói: “Tớ uống loại không đường.”
Tôi lật úp điện thoại lại, nằm xuống.
Tiếng mưa ngoài cửa sổ gõ vào thanh sắt, từng nhịp, từng nhịp, trong ký túc xá có người đang đọc sách, có người đang sấy tóc, có người đang khẽ ngâm nga.
Thế giới của tôi lần đầu tiên ồn ào một cách vừa vặn.
Ngày hôm sau đi nhận giáo trình xếp hàng dài, mặt trời đ/è xuống từ kẽ mây, mặt đất sân vận động bốc hơi nước.
Thiệu Âm đeo máy ảnh trên cổ, thấy gì cũng chụp.
Triệu Doanh trêu cô ấy: “Sau này cậu làm phim tài liệu, tên phim cứ đặt là ‘Một đời xếp hàng’ đi.”
Tô Hà ôm chồng sách nói: “Cũng có thể gọi là ‘Án mạng do sữa đậu nành gây ra’.”
Tôi ôm chồng giáo trình, cười đến mức vai rung lên bần bật.
Phía trước hàng ngũ đột nhiên có người gọi: “Ai là Hứa Chi?”
Tôi ngẩng đầu.
Giáo viên giáo vụ đứng cạnh mái che, trên tay cầm một danh sách.
“Bài văn thi đại học của em điểm rất cao, tài khoản công chúng của học viện muốn tìm sinh viên mới viết một bài văn ngắn nhập học, em có sẵn lòng thử không?”
Tôi sững người.
Thiệu Âm lập tức đẩy tôi: “Cậu ấy sẵn lòng!”
Triệu Doanh ở bên cạnh hùa theo: “Hứa Chi, lên đi!”