Những chiếc ghế ở hàng cuối cùng của rạp hát Tân Thanh đều do chính tay Hứa Mỹ Chân đá/nh số.
Hai mươi bảy năm trước, khi mới vào rạp làm việc, cô vẫn chưa dám chạm vào máy chiếu, chỉ có thể cầm bút sơn trắng, viết từ số một đến số mười tám. Nay cô đã năm mươi hai tuổi, rạp hát chuẩn bị trùng tu, đội thi công tháo dỡ từng chiếc ghế gỗ cũ kỹ đó xuống, cô vẫn đứng bên cạnh, như thể sợ có người tháo nhầm số thứ tự.
“Chị Mỹ Chân, những chiếc ghế này thực sự không cần nữa sao?” A Khải, người của đội thi công, hỏi.
“Cái nào sửa được thì giữ lại, cái nào đã bị mọt rỗng thì đừng cố quá.” Cô trả lời rất nhanh, nhưng bản thân cô biết câu nói này không chỉ dành cho những chiếc ghế.
Buổi chiều, phố cổ Phác Tử ngập trong ánh nắng oi bức. Cửa chính rạp hát khép hờ, khi có xe máy đi ngang qua bên ngoài, tiếng ống xả lại lọt vào cái sảnh trống trải. Bảng giá vé trên quầy b/án vé đã sớm bị tháo dỡ, mặt kính chỉ còn lại một vòng vết mờ do băng dính dán nhiều năm để lại. Người của nhà thầu mới đến đo đạc bức tường ngày hôm trước, nói rằng nếu gia đình đồng ý b/án, toàn bộ tòa nhà này nhanh nhất là cuối năm nay có thể dọn trống.
Mỹ Chân không phản đối, cũng không đồng ý. Tân Thanh đã ngừng hoạt động ba năm, cô vẫn nhận ủy thác của gia đình, mỗi tuần đến đây hai ngày, sắp xếp sổ sách, tiếp đón các đoàn thể địa phương đến mượn địa điểm, tiện thể trông coi tòa nhà ngày càng giống một nhà kho ký ức này.
Khi tháo đến chiếc ghế số mười bảy, A Khải đột nhiên gọi cô.
“Trong này kẹt cái gì đó.”
Miếng gỗ mỏng phía sau lưng ghế bị vênh lên một góc, trong khe hở lộ ra một mảnh giấy ố vàng. Mỹ Chân đeo găng tay, dùng nhíp từ từ gắp ra. Tờ giấy gấp làm đôi, mép dính bụi, mở ra mới thấy đó là một tờ đơn hoàn vé cũ của rạp hát Tân Thanh.
Ngày tháng ghi là 23 tháng 8 năm 1998.
Ở mục lý do hoàn vé ghi là “Thiết bị trục trặc, câu lạc bộ điện ảnh hủy bao rạp”, số lượng 98 vé, số tiền 13.720 Đài tệ. Phía dưới cùng, bên cạnh dòng chữ “Người phụ trách vé”, ký ba chữ mà cô vô cùng quen thuộc -- Lâm Tú Anh.
Tên của mẹ cô.
Tay Mỹ Chân dừng lại giữa không trung.
Mẹ cô đã qu/a đ/ời mười một năm, lúc sinh thời chưa từng nói mình từng làm công việc b/án vé ở rạp. Trong nhà luôn nói rằng, hồi đó mẹ chỉ thỉnh thoảng đến đưa cơm, người thực sự gánh vác rạp hát là bác Hứa Văn Xươ/ng. Cô nhớ mùa hè năm 1998, rạp từng n/ợ lương, sau đó bác “lấy tiền túi bù vào”, chuyện này còn được gia đình kể lại suốt hơn hai mươi năm.
Nhưng tại sao mẹ lại ký vào đơn hoàn vé?
Kỳ lạ hơn là ở góc trên bên phải không có dấu gửi đi, cũng không có địa chỉ người nhận, chỉ có một dòng chữ bằng bút chì: “Câu lạc bộ điện ảnh Phác Tử, chờ x/ác nhận.”
Mỹ Chân lật mặt sau, nhìn thấy mấy con số đã bị xóa đi. Phía trên cùng là họ của bảy người, phía sau mỗi người liệt kê một số tiền, giống như tiền lương. Dưới cùng còn viết: “Còn thiếu 112.000.”
Lồng ngựk cô bỗng thắt lại.
A Khải thấy sắc mặt cô không ổn, hạ giọng hỏi: “Là đồ của gia đình sao?”
“Coi như là vậy.” Cô đặt tờ giấy vào lại túi tài liệu trong suốt, “Tờ này đừng vứt đi.”
Chập tối, con gái cô là Lâm Dư An bắt xe buýt từ thành phố Gia Nghĩa đến. Dư An hai mươi chín tuổi, làm việc tại một công ty tư vấn văn hóa địa phương, dạo này thường bị Mỹ Chân gọi đến giúp đếm ghế, chụp ảnh không gian. Sau khi xem xong tờ đơn hoàn vé, câu đầu tiên của cô bé không phải là “kỳ diệu quá”, mà là hỏi: “Mẹ định điều tra sao?”
Mỹ Chân ngồi lại vào trong quầy b/án vé. Trước đây chỉ cần ngồi trên chiếc ghế cao này, cô biết hôm nay mình phải làm gì; b/án vé, đối soát, đổi tiền lẻ, nhắc khách giờ chiếu. Nhưng bây giờ, bên ngoài lớp kính không có ai xếp hàng, cô lại lần đầu tiên không biết mình có nên tiếp tục hay không.
“Điều tra đến cùng, có khi cũng chỉ là bà ngoại con giúp ký một tờ giấy thôi.”
“Vậy còn hơn là cứ đoán mò mãi.”
Mỹ Chân ngẩng đầu nhìn con gái. Dư An không giống ngoại, nhưng sự thẳng thắn trong cách nói chuyện lại có vài phần tương đồng.
“Chẳng phải con luôn bảo mẹ đừng coi rạp hát là tất cả sao?” Cô hỏi.
Dư An đẩy túi tài liệu lại phía cô. “Cho nên mới cần điều tra. Nếu mẹ không biết mình đang bảo vệ điều gì, thì càng khó quyết định cái nào nên giữ, cái nào có thể buông bỏ.”
Câu nói đó khiến Mỹ Chân im lặng rất lâu.
Khi bóng đêm buông xuống, cô tắt đèn sảnh lớn, chỉ để lại một ánh đèn vàng nơi quầy vé. Tờ đơn hoàn vé đặt dưới lớp kính, chữ ký của mẹ như đang nổi lên từ hai mươi tám năm trước.
Cô chợt nhớ đến một câu nói rất bình thường mà mẹ từng nói trước khi lâm chung: “Con đừng có ngồi mãi trong cái cửa sổ đó.”
Lúc đó cô tưởng mẹ chê cô làm việc vất vả.
Bây giờ, lần đầu tiên cô nghi ngờ, câu nói đó có lẽ còn có ý nghĩa khác.