Vào buổi sáng sớm khi cảnh báo bão vừa được gỡ bỏ, chân núi Bắc Đầu vẫn còn bao phủ bởi một lớp sương m/ù màu xám ẩm ướt. La Tĩnh Nghi đẩy cánh cửa kính của khách sạn hé ra một khe nhỏ, x/ác nhận không có vật gì rơi xuống ở hành lang rồi mới thu tấm biển "Tạm ngừng ra ngoài" đặt vào quầy lễ tân.

Cô đã làm quản lý ca đêm tại khách sạn cũ kỹ mở cửa hơn năm mươi năm này được mười hai năm, rất quen thuộc với trình tự sau mỗi cơn bão: trước tiên xem phòng máy thang máy, sau đó kiểm tra nồi hơi nước nóng, rồi xử lý những chiếc ô dù mà khách mượn xong quên trả. Chiếc thùng đựng ô bằng đồng ở góc sảnh, tối qua đã bị nhét chật cứng, ô đen, ô trong suốt, ô gấp m/ua ở cửa hàng tiện lợi trộn lẫn vào nhau.

Đêm qua có một cặp vợ chồng từ Chương Hóa đến tắm suối khoáng nhất quyết muốn lên núi xem tình hình mưa gió, cô đã mất hơn mười phút giải thích về nguy cơ đ/á lở và ngập úng, cho đến khi hai người đồng ý ở lại khách sạn. Cô luôn tin rằng điều quan trọng nhất của ca đêm không phải là sự nhiệt tình, mà là vạch rõ giới hạn: điều gì có thể linh động, điều gì không thể lấy sự an toàn ra để đá/nh cược. Chỉ là nguyên tắc này cô làm rất thuần thục trong công việc, nhưng khi trở về nhà thì chưa chắc đã giống như vậy.

Cô đeo găng tay vào, mở từng chiếc ô ra kiểm tra. Khung của chiếc ô đen đầu tiên kẹt một mảnh giấy dày, cô cứ tưởng là hóa đơn, rút ra mới thấy mặt vé giả cổ, bên trên in hình "Tân Bắc Đầu" và họa tiết kỷ niệm tuyến nhánh. Đó không phải là vé tàu có thể sử dụng hiện nay, mà là loại vé tái bản làm cho các hoạt động văn hóa địa phương.

Mặt sau vé viết hai dãy số bằng bút bi xanh: 21, 07.

Tĩnh Nghi nhíu mày, đặt tấm vé lên tấm đệm để đồ thất lạc dưới quầy. Chiếc ô đen thứ hai cũng kẹp một tấm vé kỷ niệm có cùng ngày tháng, mặt sau là "09, 34"; chiếc thứ ba là "17, 12".

Đến chiếc thứ sáu, cô không còn coi đây là sự trùng hợp nữa.

Sáu chiếc ô kiểu dáng khác nhau, có chiếc cán gỗ đã mòn đến trắng bệch, có chiếc bao ô được kh//âu một đường chỉ đỏ thẫm, hai chiếc còn lại rõ ràng là loại ô tự động thường thấy ở cửa hàng tiện lợi những năm gần đây. Nhãn dán đồ thất lạc trên cán ô cũng không cùng một đợt, có nét chữ đã phai màu, có cái mới dán hai ba năm nay. Thế nhưng ngày tháng trên sáu tấm vé hoàn toàn giống nhau, những con số ở mặt sau đều chỉ có hai nhóm, không có tên, cũng không có số điện thoại đầy đủ.

Khi Tiểu Phân, nhân viên quầy lễ tân ca sáng bước vào, Tĩnh Nghi đang xếp sáu tấm vé thành một hàng.

"Quản lý, chị đang chơi trò giải đố ạ?"

"Giống như có người vứt đáp án lại cho khách sạn bảo quản suốt mấy năm nay thì đúng hơn."

Cô chép lại mã số cũ trên cán ô, đi lục lại hồ sơ đồ thất lạc. Khách sạn quy định vật phẩm không người nhận không được tùy tiện vứt bỏ, những chiếc ô dù giá trị không cao sau khi lưu giữ một thời gian sẽ được tập trung ở kho sau, khi gặp mưa lớn sẽ được dùng làm ô cho khách mượn tạm thời. Đêm qua bão lớn quá, đồng nghiệp trực ca sợ khách ra ngoài bị ướt, đã chuyển hết đống ô cũ ra sảnh, mới khiến sáu chiếc ô này tình cờ hội tụ lại.

Hồ sơ đầu tiên được lưu lại từ tám năm trước, người đăng ký tên là Phan Ngọc Lan, năm đó 48 tuổi, sống ở Bản Kiều. Hồ sơ thứ hai là của Thái Nghi Trăn bảy năm trước. Sau đó cứ cách khoảng một năm lại có một chiếc ô đen bị các nữ khách trung niên khác nhau để lại.

Sáu cái tên, sáu năm, nhưng đều lưu trú vào mùa thu, hơn nữa đều chỉ ở lại một đêm.

Đầu ngón tay Tĩnh Nghi dừng lại trên cuốn sổ ghi chép.

Cô chợt nhớ đến một đêm mưa mười năm trước. Chị gái La Tĩnh Vi kéo hành lý đứng trước cửa nhà, cũng mang theo một chiếc ô đen. Khi đó mẹ vừa phẫu thuật khớp gối xong, hai chị em cãi nhau không kiểm soát được vì chuyện ai nên chăm sóc, ai hy sinh nhiều hơn. Câu cuối cùng Tĩnh Nghi nói là: "Nếu chị muốn đi như vậy, thì sau này đừng bao giờ quay lại nữa."

Tĩnh Vi thực sự đã không quay lại.

Mười năm nay, Tĩnh Nghi luôn giấu câu nói đó như một món đồ thất lạc không ai nhận, biết nó ở đó nhưng không dám chạm vào.

Tiểu Phân đặt tách cà phê bên cạnh cô, khẽ hỏi: "Có cần gọi điện trực tiếp hỏi những vị khách này không ạ?"

Tĩnh Nghi nhìn sáu tấm vé, lắc đầu.

"Cứ làm theo hồ sơ đã. Đồ khách để lại, chúng ta chỉ có thể liên lạc vì mục đích tìm đồ thất lạc, không thể lấy thông tin lưu trú của người ta để đi truy tìm câu chuyện riêng."

Miệng cô nói rất bình tĩnh, nhưng trong lòng lại hiểu rõ hơn ai hết, có những người rời đi là vì hy vọng được tìm thấy; có những người rời đi, lại có thể chỉ vì hy vọng không bị ép buộc phải quay về nữa.

Mà sáu tấm vé tàu cùng ngày tháng ấy, đang nằm lặng lẽ dưới ánh đèn quầy lễ tân, như sáu câu nói vẫn chưa được đọc hiểu.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Sau khi bão tan, cô phát hiện sáu chiếc ô đen trong thùng ở khách sạn đều kẹp cùng một tấm vé xe

Chương 11
Sau khi cảnh báo bão được gỡ bỏ, La Tĩnh Nghi, quản lý ca đêm của một khách sạn cũ tại Bắc Đầu, đã phát hiện sáu chiếc ô đen bị bỏ quên trong ống cắm ô, mỗi chiếc đều kẹp một tấm vé kỷ niệm tuyến nhánh Tân Bắc Đầu cùng ngày, với những con số ở mặt sau không thể giải mã riêng lẻ. Dựa vào sổ đăng ký lưu trú, hồ sơ đồ thất lạc, hình ảnh từ camera giám sát khu vực công cộng, tư liệu về các hoạt động lịch sử văn hóa địa phương và lịch trình cũ của tuyến nhánh, cô dần truy vết ra rằng đây không phải là mật mã tội phạm, mà là một quy tắc "truyền tin bình an" được một nhóm phụ nữ trung niên thiết kế suốt nhiều năm dành cho một người bạn đã tự nguyện rời bỏ gia đình gốc. Khi một người tự xưng là người nhà tìm đến yêu cầu cung cấp địa chỉ, Tĩnh Nghi buộc phải đưa ra lựa chọn giữa nỗi nhớ nhung, cảm giác tội lỗi và ranh giới cá nhân, đồng thời đối diện lại với vết thương lòng sau mười năm mất liên lạc với người chị gái đã bỏ nhà ra đi.
0