Ngô Bội San gọi điện lại vào ngày hôm sau, nói rằng nhân viên xã hội của Lâm Uyển Trân đồng ý liên lạc với khách sạn.
Ba giờ chiều, Tĩnh Nghi nhận được cuộc gọi từ trung tâm phúc lợi xã hội. Người gọi tự giới thiệu tên Giang, sau khi giải thích đơn vị và chức vụ, họ nói rõ ràng: "Tôi đã nhận được sự đồng ý của bà Lâm, chỉ xin x/ác nhận với cô về việc có người đến khách sạn hỏi về bà ấy. Bà ấy không đồng ý cung cấp địa chỉ, số điện thoại hay nơi làm việc, cũng không hy vọng khách sạn x/ác nhận với người nhà rằng bà ấy từng lưu trú hay xuất hiện."
Tĩnh Nghi thuật lại tình hình đêm qua theo hồ sơ, bao gồm cả việc người đàn ông để lại thông tin liên lạc và nhắc đến sáu chiếc ô, nhưng không tiết lộ tên của những vị khách khác.
Nhân viên xã hội Giang nói: "Bà Lâm muốn tôi chuyển lời đến gia đình: Bà ấy hiện vẫn an toàn, cuộc sống ổn định. Việc có gặp mẹ hay không, bà ấy sẽ tự cân nhắc, không chấp nhận việc người nhà thông qua bạn bè hoặc khách sạn để truy tìm."
"Vậy tờ giấy liên lạc này có thể chuyển cho ông ấy không?"
"Được. Tôi sẽ để bà Lâm quyết định xem có muốn xem hay không."
Đến đây, mọi chuyện vốn dĩ đã đủ.
Nhưng sáu chiếc ô vẫn còn bốn chiếc chưa có người nhận, ý nghĩa những con số sau vé vẫn còn dang dở. Quan trọng hơn, Ngô Bội San lo lắng rằng nếu phương thức luân chuyển cũ bị người nhà ghép lại từ cuốn sổ tay của Phan Ngọc Lan, họ có thể lầm tưởng rằng mình có thể tìm thấy Uyển Trân.
Bà chủ động hỏi Tĩnh Nghi: "Nếu cả sáu người chúng tôi đều đồng ý, cô có sẵn lòng giúp chúng tôi hoàn tất việc xử lý hồ sơ còn lại ở khách sạn không? Không phải để tìm Uyển Trân, mà là để chính thức kết thúc hệ thống này."
Tĩnh Nghi không đồng ý ngay.
"Tôi phải x/ác nhận trước đây là xử lý đồ thất lạc, không phải là giúp các cô thiết lập một hệ thống liên lạc bí mật mới."
"Đây là để kết thúc."
Thế là trong tuần tiếp theo, ba chủ nhân còn lại của những chiếc ô lần lượt đến khách sạn, nhận lại đồ thất lạc của mình theo đúng danh tính. Phan Ngọc Lan vì bị mất trí nhớ nên có con gái đi cùng, người con gái mang theo tài liệu y tế và giấy tờ tùy thân, nhưng Tĩnh Nghi vẫn chỉ hỏi trong phạm vi Phan Ngọc Lan có thể hiểu được xem bà có muốn nhận lại hay không. Phan Ngọc Lan sờ vào chiếc ô cán gỗ, cười nói: "Chiếc này tôi mang đến Bắc Đầu nhiều lần lắm."
Bà đã không còn nhớ những con số sau vé đại diện cho điều gì nữa.
Cuối cùng chỉ còn lại chiếc ô thuộc về Hoàng Thục Quyên, người đã qu/a đ/ời. Gia đình bà sau khi xuất trình giấy tờ chứng minh qu/an h/ệ theo thủ tục của khách sạn đã nhận lại ô, nhưng với sự đồng ý của Ngô Bội San và những người khác, tấm vé đó được chụp lại những con số phía sau làm hồ sơ kết thúc quy tắc cũ, còn bản gốc vẫn giao lại cho gia đình cùng với món đồ thất lạc.
Sáu nhóm số cuối cùng đã hoàn chỉnh.
Ngô Bội San mang đến một cuốn sổ photocopy mỏng, không phải bản gốc, mà là "Trang bình an tuyến nhánh" mà họ tự thiết kế năm đó. Trên đó chỉ có sáu mật mã và các cột mục, không có địa chỉ, số điện thoại hay tên tuổi.
Tĩnh Nghi trải lịch trình lịch sử tra được ở thư viện Bắc Đầu lên bàn.
Nhóm đầu tiên của sáu tấm vé không đọc trực tiếp như 21, 09, mà phải sắp xếp theo sáu "chuyến tàu đại diện" đã chọn trong hoạt động năm đó. Mỗi chuyến tàu có một số thứ tự trạm, đối chiếu với nhóm số thứ hai sau vé là có thể tìm ra một cột mục trên trang bình an.
Sau khi xếp sáu tấm vé xong, chúng chỉ vào sáu quy tắc cố định:
Một, chỉ báo bình an.
Hai, không hỏi nơi ở.
Ba, không chuyển tiếp điện thoại.
Bốn, không thay mặt đồng ý gặp mặt.
Năm, có tình trạng y tế khẩn cấp thì nhân viên xã hội xử lý.
Sáu, bất kỳ ai cũng có thể dừng việc truyền tin.
Xem xong, lồng ngựk Tĩnh Nghi bỗng nóng ran.
Cô vốn tưởng những con số sẽ ghép thành địa chỉ, số điện thoại, thậm chí là số phòng nào đó.
Kết quả chúng ghép thành sáu chữ "Không được".
Ngô Bội San cười hơi đắng chát. "Khi còn trẻ chúng tôi chưa học được gì về ranh giới, chỉ có thể viết quy tắc như một bản hướng dẫn công việc."
"Điều này đáng tin cậy hơn nhiều so với lời hứa miệng của bao người."
"Uyển Trân chính là không còn tin vào lời hứa miệng nữa," Trần Tú Chân nói.
Bà kể cho Tĩnh Nghi nghe, mười năm trước khi Lâm Uyển Trân dọn đi lần đầu, gia đình đã thông qua người thân, đồng nghiệp, hàng xóm cũ thay phiên nhau hỏi thăm. Có người nói chỉ muốn biết cô ấy có ổn không, có người nói mẹ bị b/ệnh, có người nói n/ợ nần chưa giải quyết xong. Ai cũng cảm thấy mình có lý do chính đáng, cuối cùng lại khiến cô ấy phải đổi cả công việc đến hai lần.
"Vì thế chúng tôi mới c/ắt nhỏ việc liên lạc ra từng đoạn một," Ngô Bội San nói, "Không phải trốn cảnh sát, cũng không phải trốn n/ợ, mà là trốn kiểu người luôn cho rằng mình có quyền quyết định cuộc đời của bạn hơn chính bạn."
Tĩnh Nghi nhìn sáu quy tắc đó, nhớ đến tấm thiệp sinh nhật của chị gái.
Cô chợt hỏi: "Nếu một người mười năm không liên lạc với gia đình, nhưng từng để lại một câu 'đợi khi nào con chuẩn bị sẵn sàng sẽ liên lạc', thì gia đình còn có thể làm gì?"
Ngô Bội San không trả lời ngay.
"Cô có thể để lại một tin nhắn mà không ép buộc chị ấy phải trả lời," bà nói, "Nhưng đừng biến sự hối lỗi của bản thân thành điều mà chị ấy buộc phải giải quyết."
Câu nói này rất nhẹ, nhưng lại chính x/ác hơn bất kỳ lời trách móc nào.
Đêm đó, Tĩnh Nghi về nhà, mở chiếc máy tính cũ. Trong danh bạ vẫn còn lưu lại địa chỉ email Tĩnh Vi từng dùng mười năm trước.
Cô viết một bức thư rất ngắn.
Không hỏi ở đâu, không hỏi tại sao không về nhà, cũng không nói mẹ đã già.
Cô chỉ viết: "Chị, tấm thiệp tám năm trước giờ em mới thực sự đọc hiểu. Năm đó em đã nói những lời rất tổn thương, cũng coi trách nhiệm chăm sóc mẹ là điều đương nhiên chị phải gánh vác. Bức thư này không cần hồi âm. Em chỉ muốn chị biết, nếu có một ngày chị sẵn lòng liên lạc, em sẽ là người lắng nghe trước xem chị muốn nói gì."
Sau khi gửi đi, cô không cài đặt thông báo đã đọc, cũng không tìm ki/ếm các tài khoản khác liên kết với email đó.
Điều đầu tiên mà sáu đoạn số dạy cho cô, chính là có những quy tắc không phải dùng để giải mã người khác.
Mà là để hạn chế chính mình.