“Buông tôi ra-- để tôi qua đó-- mẹ kiếp, hôm nay không đá/nh nát nửa khuôn mặt còn lại của nó thì tôi không mang họ...”

Bố vẫn luôn đứng trước lớp kính một chiều.

Ông nghiêng đầu, giọng điệu bình thản hỏi người cảnh sát đứng cạnh:

“Cư/ớp tài sản tại gia cùng với ý định hi*p da/m, cộng thêm những nạn nhân trước đó, có thể bị kết án bao nhiêu năm?”

Người cảnh sát nhìn ông một cái, rồi lại nhìn lão Trương đang r/un r/ẩy sau lớp kính, nói một câu:

“Tội chồng tội, đủ cho hắn uống một bình rồi.”

Bố gật đầu.

Ánh mắt bố xuyên qua lớp sương m/ù, nhìn chằm chằm vào lão Trương trên ghế thẩm vấn.

Lão Trương vừa hay ngẩng đầu lên.

Hắn không biết ai đang đứng sau lớp kính này, nhưng trong khoảnh khắc đó, hắn nhìn thấy bóng hình mờ ảo phản chiếu trên mặt kính, và rồi hắn nhận ra.

Đôi mắt hắn trợn trừng, trong cổ họng phát ra một âm thanh ú ớ như con chuột bị bóp cổ.

Người cảnh sát trong phòng thẩm vấn nhíu mày, gõ gõ xuống bàn, giọng nghiêm khắc:

“Yên lặng!”

Lão Trương không yên lặng.

Cảnh sát đứng dậy, bước tới xách hắn từ dưới đất lên rồi ấn lại vào ghế.

Tiếng gào thét của lão Trương biến thành tiếng nức nở, tiếng nức nở biến thành tiếng lầm bầm không rõ chữ, cuối cùng chỉ còn đôi môi cử động, lặp đi lặp lại một câu.

“Tôi không muốn đi tù-- tôi không muốn đi tù-- tôi không muốn đi tù--”

Cậu ở phòng giám sát bên cạnh cuối cùng cũng im lặng.

Cậu dựa vào tường, thở hổ/n h/ển: “Sớm biết thế thì đã không làm thế rồi.”

Bố đẩy cửa bước ra ngoài.

Ở hành lang, mẹ ngồi trên băng ghế nhìn tôi, thấy bố ra liền đứng dậy.

Không hỏi gì cả, chỉ đưa chai nước trong tay cho bố.

Bố nhận lấy nước, vặn nắp uống một ngụm, rồi nắm lấy tay mẹ, nắm cực kỳ ch/ặt.

“Về nhà thôi.”

Cuối hành lang, bên ngoài cửa kính đồn cảnh sát là ánh nắng giữa trưa.

Tôi đứng cạnh mẹ, ngoảnh đầu nhìn lại cánh cửa phòng thẩm vấn đang đóng ch/ặt.

Phía sau cánh cửa truyền đến tiếng khóc của lão Trương một cách mơ hồ.

Kiếp trước, hắn cúi đầu không nói lời nào tại tòa, đến một lời xin lỗi cũng không có, lúc bị kết án chung thân thậm chí không rơi một giọt nước mắt.

Kiếp này trong phòng thẩm vấn lại khóc như một đứa trẻ.

Hắn đáng đời.

Tin tức lan truyền trong làng còn nhanh hơn gió.

Sáng hôm sau, khi chiếc loa lớn ở đầu làng còn chưa phát, trước cửa nhà lão Trương đã vây quanh một vòng người.

Khi bí thư thôn, ông Lưu, đạp xe đến, tiếng chuông xe rung suốt cả quãng đường, đám đông mới chịu dạt ra một khe nhỏ.

Ngồi ở ghế sau xe ông là cảnh sát của đồn thị trấn.

Cổng nhà lão Trương đóng ch/ặt, rèm cửa kéo kín mít.

Ông Lưu dựng xe ở cổng, tiến lên vỗ vỗ vào cửa.

Trong sân truyền đến giọng nói khàn khàn của một người phụ nữ: “Ai đấy?”

“Mở cửa, là tôi, lão Lưu đây.”

Cửa hé ra một khe nhỏ.

Vợ lão Trương thò nửa khuôn mặt ra, tóc tai rối bời, dưới mắt là hai quầng thâm đen.

Bà ta nhìn thấy người cảnh sát sau lưng ông Lưu, sắc mặt tái nhợt.

“Bí thư Lưu, có chuyện gì thế ạ? Chẳng phải lão Trương nhà tôi hôm qua đã bị cảnh sát đưa đi rồi sao, các anh còn đến làm gì nữa?”

Ông Lưu không đáp lời bà ta, đẩy cửa bước vào sân.

Cảnh sát theo sau, đặt túi hồ sơ bằng giấy da lên chiếc bàn đ/á trong sân.

Đám đông vây quanh cổng ùa vào trong, không ai lên tiếng, nhưng tất cả mọi người đều vươn cổ ra dài ngoằng.

“Chị dâu nhà họ Trương, tôi hỏi chị vài việc.”

Ông Lưu đứng giữa sân, giọng điệu không hẳn là nghiêm khắc, nhưng tuyệt đối không hề khách khí.

“Mùa thu năm ngoái trong làng mất tr/ộm mấy món đồ Iót của phụ nữ phơi bên ngoài, chuyện đó chị còn ấn tượng không?”

Mặt vợ lão Trương tái mét.

Bà ta nắm ch/ặt lấy mép tạp dề, nắm đến mức các khớp ngón tay trắng bệch:

“Chuyện đó thì liên quan gì đến nhà chúng tôi? Chẳng phải vẫn chưa tìm ra sao--”

“Tìm ra rồi.”

Ông Lưu lấy từ trong túi hồ sơ ra mấy tấm ảnh, đặt lên bàn đ/á.

“Đây là những thứ thu được trong lán công nhân ở mỏ đ/á của lão Trương. Không chỉ mấy món của mùa thu năm ngoái, mà còn có của năm kia, và của cả làng bên nữa.”

Trong sân im lặng mất hai giây.

Rồi đôi chân vợ lão Trương mềm nhũn, cả người đổ sụp xuống đất.

Bà ta há miệng, loạng choạng hai cái rồi bắt đầu gào khóc thảm thiết.

“Đồ trời đá/nh này ơi-- sao ông ta có thể làm ra loại chuyện này chứ-- tôi theo ông ta hơn mười năm, bình thường ông ta thật thà lắm mà-- tôi còn đi khắp nơi nói ông ta thật thà-- giờ mặt mũi tôi biết để đâu đây--”

Trong đám đông vây quanh cổng, có người hít vào một hơi lạnh.

Ông Lưu không đỡ bà ta.

Ông đứng cạnh bàn đ/á, cúi đầu nhìn người phụ nữ đang đổ sụp dưới đất, im lặng một hồi.

“Khi chị đi khắp nơi nói lão Trương nhà chị thật thà, chị có bao giờ nghĩ đến những chuyện hắn đã làm không?”

Tiếng khóc của vợ lão Trương khựng lại.

Đúng lúc này, ở đầu làng truyền đến một tràng tiếng người ồn ào.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Sau khi bão tan, cô phát hiện sáu chiếc ô đen trong thùng ở khách sạn đều kẹp cùng một tấm vé xe

Chương 11
Sau khi cảnh báo bão được gỡ bỏ, La Tĩnh Nghi, quản lý ca đêm của một khách sạn cũ tại Bắc Đầu, đã phát hiện sáu chiếc ô đen bị bỏ quên trong ống cắm ô, mỗi chiếc đều kẹp một tấm vé kỷ niệm tuyến nhánh Tân Bắc Đầu cùng ngày, với những con số ở mặt sau không thể giải mã riêng lẻ. Dựa vào sổ đăng ký lưu trú, hồ sơ đồ thất lạc, hình ảnh từ camera giám sát khu vực công cộng, tư liệu về các hoạt động lịch sử văn hóa địa phương và lịch trình cũ của tuyến nhánh, cô dần truy vết ra rằng đây không phải là mật mã tội phạm, mà là một quy tắc "truyền tin bình an" được một nhóm phụ nữ trung niên thiết kế suốt nhiều năm dành cho một người bạn đã tự nguyện rời bỏ gia đình gốc. Khi một người tự xưng là người nhà tìm đến yêu cầu cung cấp địa chỉ, Tĩnh Nghi buộc phải đưa ra lựa chọn giữa nỗi nhớ nhung, cảm giác tội lỗi và ranh giới cá nhân, đồng thời đối diện lại với vết thương lòng sau mười năm mất liên lạc với người chị gái đã bỏ nhà ra đi.
0