Ngày thứ ba, công ty gửi thông báo điều tra chính thức, yêu cầu Văn Kỳ nộp văn bản giải trình trong vòng một tuần. Kèm theo đó là một "Phiếu x/ác nhận kiểm tra trước t/ai n/ạn", trong đó liệt kê cả sáu đợt kiểm tra trong ba năm đều là "đã hoàn thành", nhưng cột chữ ký vẫn để trống.
Văn Kỳ nhìn hồi lâu, chụp màn hình lưu vào thư mục sự kiện của mình, không phản hồi phiếu đó. Cô viết một bức thư khác gửi cho nhân sự và pháp chế, bày tỏ sẵn sàng phối hợp điều tra, nhưng đối với những đợt kiểm tra chưa thực hiện thì không thể x/ác nhận; nếu công ty cho rằng có nhân viên khác đã thực hiện, xin vui lòng cung cấp ngày tháng, người thực hiện và hồ sơ gốc.
Nửa giờ sau, Hứa Quốc Đống gọi điện.
"Cô nhất định phải làm mọi chuyện đến mức này sao?"
"Tôi chỉ yêu cầu công ty giải trình xem ai là người đã làm."
"Cư dân bây giờ đang bắt công ty chịu trách nhiệm, cộng đồng cũng sắp mở buổi họp giải trình. Cô làm vậy, mỗi bức thư đều để lại hồ sơ, là đang phòng bị ai chứ?"
Văn Kỳ dừng lại hai giây. "Đang lưu giữ sự thật."
"Cô đừng quên, lúc trước khối lượng công việc quá tải, chính cô nói đội ngũ có thể gánh vác được."
Câu nói này đ/âm trúng cô. Cô quả thực đã nói vậy, và không chỉ một lần. Cô cầm điện thoại, cố gắng điều hòa hơi thở chậm lại.
"Đúng, tôi sẽ viết điều đó vào bản giải trình. Nhưng tôi không nói là kiểm tra đã được thực hiện."
Hứa Quốc Đống không nói gì thêm, chỉ buông một câu: "Cô tự chịu hậu quả đi."
Chiều hôm đó, trong nhóm chat của công ty, cô bị xóa khỏi vài phòng chat dự án. Tư Dĩnh gửi một sticker rồi nhanh chóng thu hồi. Văn Kỳ không truy hỏi. Cô biết đồng nghiệp không phải đột nhiên không quen biết cô, mà là mỗi người đều đang tính toán bát cơm của chính mình.
Chiều cùng ngày, quyền truy cập email công ty của cô bị chuyển thành chỉ nhận được thư, không thể vào được một số thư mục dự án nữa. Phản ứng đầu tiên của Văn Kỳ là căng thẳng, sau đó cô tự nhắc mình không được cố gắng vượt quyền. Cô ghi lại thời gian thay đổi quyền hạn, đồng thời liệt kê danh sách tài liệu hiện vẫn có thể lấy được. Hành động này rất bình tĩnh, nhưng lại khiến cô lần đầu tiên thực sự cảm thấy mình đã bị loại bỏ khỏi hệ thống công việc vốn quen thuộc.
Cô cũng gọi một cuộc điện thoại cho nhân viên tư vấn của Cục Lao động, x/ác nhận rằng nếu công ty yêu cầu cô chờ lệnh trong thời gian điều tra, thì tiền lương, phương thức đi làm và xử lý chức vụ đều phải có giải thích rõ ràng. Đối phương không thay cô kết luận công ty vi phạm pháp luật, chỉ nhắc cô giữ lại thông báo và phân biệt giữa "biện pháp điều tra" với "kết quả xử ph/ạt". Văn Kỳ ghi hai cụm từ này vào sổ tay, quyết định không tự đưa ra kết luận cho mình trước.
Điều khó chịu nhất lại là vào buổi tối. Mười hai năm qua, hầu như mọi danh phận của cô đều gắn liền với công ty: chức danh trên danh thiếp, người mà khách hàng gọi đến sẽ tìm, người đầu tiên được gọi đến hiện trường khi nhóm gặp sự cố. Bây giờ điện thoại im ắng, cô chợt không biết mình còn lại thứ gì.
Thừa Hữu hẹn cô đi dạo gần sông Liễu Xuyên. Hai người không bàn chuyện sự cố, trước tiên đi ăn đồ ngâm tương, rồi dọc theo vỉa hè chậm rãi bước đi. Văn Kỳ đi được nửa đường đột nhiên nói: "Hôm nay em bị xóa khỏi nhóm rồi."
Thừa Hữu "ừ" một tiếng.
"Anh không hỏi em có buồn không à?"
"Anh nhìn ra được."
"Vậy sao anh không an ủi?"
Thừa Hữu dừng lại nhìn cô. "Em muốn được an ủi, hay muốn có người nói với em rằng họ đều rất x/ấu xa?"
Văn Kỳ ngẩn người trước câu hỏi.
Anh nói tiếp: "Nếu là vế trước, anh có thể ở bên em. Nếu là vế sau, anh không có tư cách thay em phán xét."
Cô im lặng hồi lâu, cuối cùng nói: "Em chỉ cảm thấy như mười hai năm bị nhổ bật ra trong chớp mắt."
Thừa Hữu đưa tay ra, không chạm vào cô ngay. "Có thể nắm tay không?"
Văn Kỳ đặt tay vào lòng bàn tay anh.
Hành động này không giải quyết được bất cứ điều gì, nhưng cô đột nhiên có thể thả lỏng đôi vai một chút. Cô vốn rất giỏi xử lý hiện trường: nhìn vết nứt, đo góc nghiêng, vẽ tán cây, phán đoán xem có cần phong tỏa hay không. Cô lại không giỏi xử lý cảm giác mất trọng lượng của chính mình.
Hôm sau, cửa sổ tư vấn của Cục Lao động thành phố Đài Trung trả lời câu hỏi trước đó của cô. Người phụ trách nói, nếu cô cho rằng việc hủy tiền thưởng hoặc xử lý chức vụ có liên quan đến việc từ chối ký khống, cô có thể tập hợp quy định công ty, hồ sơ lương và thông báo để đá/nh giá việc đề nghị hòa giải tranh chấp lao động; nếu chỉ là điều tra nội bộ đơn thuần, cũng phải xem công ty có quy trình đã định hay không.
Văn Kỳ không nộp đơn ngay. Cô tra c/ứu biện pháp khiếu nại của nhân viên công ty, làm theo quy trình nộp khiếu nại nội bộ, khẳng định rằng cuộc điều tra nên tránh để quản lý – người trực tiếp yêu cầu cô ký bổ sung – chủ trì, đồng thời yêu cầu bảo toàn tài liệu liên quan đến sự cố.
Khi viết đến đoạn cuối, tay cô hơi run. Không phải vì sợ pháp luật, mà vì cô biết rất rõ, một khi đã gửi đi, mối qu/an h/ệ giữa cô và Hứa Quốc Đống sẽ không thể quay lại kiểu "có vấn đề đóng cửa bảo nhau" như trước nữa.
Trước khi gửi, cô gọi cho Thừa Hữu.
"Em chuẩn bị gửi khiếu nại."
"Em muốn anh làm gì?"
"Không cần làm gì cả. Em chỉ muốn cho anh biết thôi."
"Được. Gửi xong đi ăn tối không?"
Văn Kỳ mỉm cười. "Có."
Cô nhấn nút gửi.
Khoảnh khắc đó, lần đầu tiên cô không coi sự thân mật là nhờ người khác giải quyết vấn đề cho mình, mà là cho phép một người khác biết cô đang phải gánh chịu những gì. Đối với cô, điều này thậm chí còn khó hơn cả việc viết đơn khiếu nại.